Cửa Cung Sâu Thẳm - Chương 2
7
Triệu Gia Trọng né tránh ta.
Triệu ma ma dỗ dành, nói hắn bận lo việc nhà.
“Từ khi Nhị gia nhà ta đăng cơ làm hoàng đế, đại gia và phu nhân cũng chẳng may qua đời, việc buôn bán đường thủy trong nhà liền bỏ dở.” Triệu ma ma vừa cúi đầu vừa nhẹ nhàng vuốt phẳng áo cưới đang may dở cho ta “Người xưa, kẻ c.h.ế.t người bệnh, giờ cũng tản mát gần hết rồi.”
“Thiên hạ đều nói, nhà họ Từ giờ có tiền đồ rực rỡ như rồng gặp mây, hà tất phải bám víu vào chút sinh ý dầm mưa dãi nắng kia. Thế nhưng Gia Trọng lại chẳng chịu nghe, những thứ cũ kỹ hắn muốn giữ, người cũ hắn cũng chẳng bỏ.”
Tia sáng dịu nhẹ lần từng tấc chiếu lên lớp kim tuyến đã nhuốm màu năm tháng, tựa những đốm sao lấp lánh. Trong đôi mắt đục mờ của Triệu ma ma , vẫn ánh lên chút sáng rọi, hàm chứa quyến luyến chẳng nỡ rời.
Bà lắc đầu cười:
“Người ta cười hắn ngốc, không thèm dựa dẫm kim sơn ngân hải nơi kinh thành, thân thì tàn, còn gánh vác một nhà toàn già yếu bệnh tật.”
Nghe vậy, ta hổ thẹn, siết chặt đầu ngón tay.
“Là ta không tốt… không chăm lo được cho mọi người.”
Nếu cha mẹ còn, mọi chuyện ắt chẳng đến nỗi thế này.
“Sao lại nói lời ấy?” Triệu ma ma kéo tay ta lại, vỗ vỗ lòng bàn tay.
“Từ nhỏ con đã là đứa bé ngoan nhất, không mang dáng vẻ tiểu thư, đối với kẻ bếp núc hạ đẳng cũng luôn hòa nhã nhân từ. Sau này được Nhị gia đón đi, đột nhiên không còn liên lạc với gia đình, chúng ta tuy lo lắng, nhưng cũng hiểu Nhị gia là muốn tốt cho con. Giờ mới biết, thì ra con bị thương nên mất trí nhớ, lòng còn đau xót chưa nguôi, sao có thể trách con không ở lại.”
Nhưng Triệu Gia Trọng thì đang trách ta.
Có lẽ là ta đã từng làm điều khiến hắn đau lòng, nên giờ hắn mới muốn cắt đứt hết thảy.
Hắn nói lời nào cũng là giả, thế nhưng ta nhớ rõ, dưới ánh nến hồng, ta từng lén vén khăn voan, nhìn vào đôi mắt hắn mà lòng rộn ràng vui sướng, làm sao có thể giả được?
Hắn bảo người ta trong lòng ta là Diêu Tông Sách, vậy tại sao, khi ta nhận ra bóng hình hắn trong ánh mắt Diêu Tông Sách, tâm lại nhẹ bẫng như trút được gánh nặng?
Ngày nắng ráo, tiết trời tuyệt đẹp, hải đường và hoa hạnh trong sân bay như mưa. Ta tựa vào bậu cửa, tâm trạng ngổn ngang, đưa tay hứng một cánh hoa, ngẩn ngơ nhìn nó lại bị gió cuốn đi.
Giữ không được… thứ gì cũng chẳng thể giữ lại.
Triệu ma ma cuối cùng cũng vuốt thẳng được nếp áo cưới phức tạp nặng nề, trong mắt bà là niềm vui xen lẫn ngậm ngùi:
“Phu nhân thêu được nửa chừng, sau này mắt ta mờ, gắng gượng mà hoàn thành nửa còn lại. Dù không xứng với con, nhưng đem theo gả về kinh thành, cũng coi như là chút tâm nguyện.”
Ta đón lấy áo, nhẹ nhàng vuốt ve, mỉm cười lắc đầu:
“Ta sẽ không lấy chồng nữa đâu.”
“Sao cơ?” Triệu ma ma giật mình, hấp tấp hỏi:
“Chẳng lẽ Diêu công tử thật sự đối xử tệ bạc với con?”
Ta khẽ gảy chiếc cúc ngọc trai nơi áo, nhẹ giọng:
“Hắn có người trong lòng rồi.”
Lời này khiến Triệu ma ma giận run, mày nhíu lại, vỗ mạnh bàn một cái:
“Hắn dám phụ lòng như thế? Năm xưa loạn lạc, tiểu thư còn cứu hắn một mạng!”
Chuyện này ma ma cũng từng nhắc đi nhắc lại: ta liều mạng cứu Diêu Tông Sách khỏi hố x.á.c người giữa trời tuyết trắng, đến nỗi mang bệnh trong người, cứ trở trời là tay run rẩy.
Diêu Tông Sách nợ ta một mạng.
Ai cũng nói thế.
Ai cũng nhớ mãi.
Hắn cưới ta là để báo ân, không cưới chính là lòng dạ lang sói.
Hàng ngàn hàng vạn đôi tay mang danh “ân nghĩa” đè lên hắn, ép hắn từ bỏ người mình yêu, cúi đầu trước ta.
Nhưng điều đó… có phải điều ta mong mỏi đâu?
Chưa ai từng hỏi ta cả.
Hôn ước giữa ta và hắn là do cữu cữu ban.
Sự gần gũi của ta dành cho hắn, chỉ vì đôi mắt ấy, giống hệt Triệu Gia Trọng.
Dù ta chẳng hiểu vì sao, ngày ấy ta lại bất chấp sinh tử cứu hắn.
Nhưng ta biết rõ một điều
Người ta thương, từ đầu đến cuối, vẫn là Triệu Gia Trọng.
“Ma ma à, ta không buồn đâu.”
Ta ngẩng đầu, chống tay, nhắm mắt hít gió trời.
“Bởi vì trong lòng ta, đã từng gả cho một người thật tốt rồi.”
Dù người ấy… chẳng thừa nhận.
8
Ta tự ép mình phải mạnh mẽ, phải vực dậy tinh thần. Mặc cho Triệu Gia Trọng có lạnh nhạt, xa cách thế nào, ta vẫn kiên quyết bám theo không buông.
Nữ nhi sợ nam nhân dây dưa không dứt.
Vậy nếu đảo ngược lại, lẽ nào không hiệu nghiệm?
Hắn đến bến tàu kiểm hàng tơ sống, trà khô, ta liền theo sau.
Hắn lên thuyền kiểm tra buồm dây, ván sàn, ta cũng leo theo.
Nhưng hắn… vẫn chẳng nói với ta một lời.
Nắng đào tháng ba chói chang đến hoa mắt chóng mặt, ta khoác áo, lơ đễnh rũ mắt nhìn bóng lưng người kia trong bộ áo vải lam xám đơn sơ.
“Chàng để tâm tới ta một chút đi mà, Triệu Gia Trọng…”
Hắn không đáp lời, chỉ nghiêng người đẩy thử đoạn lan can lỏng lẻo, rồi cúi xuống dùng chùy gỗ gõ chặt lại kẽ hở. Thuyền này cũ kỹ quá đỗi, đi hết một vòng kiểm tra, mồ hôi khiến những đường nét tuấn tú của hắn dưới ánh dương càng thêm rõ ràng, sáng lóa.
Từ khoang dưới, một hán tử đen nhẻm chui lên, bỏ mũ xuống, để lộ cái đầu hói lửa cháy dở dang. Hắn xách bình rượu, cười hề hề:
“Tướng quân à, ngài để ý đến tiểu cô nương này một chút đi, theo sau ngài suốt cả buổi chiều rồi, si tình đến thế, chi bằng cưới nàng về luôn cho xong!”
Tướng quân?
Ta sửng sốt nhìn Triệu Gia Trọng:
“Chàng từng nhập ngũ?”
Hán tử kia cười toe:
“Phải rồi, tướng quân nhà ta từng là thiên hộ dưới trướng doanh Thập Tam Biên, trấn thủ Uy Hổ Quan, ngay cả quân Kim cũng không đánh vào nổi. Một đấng hảo hán chân chính, xứng đáng với cô nương nhà lành!”
Uy Hổ Quan?
Chẳng phải nơi ấy kề cận với Ngọc Châu – nơi nghĩa quân của cữu cữu đóng quân khi trước sao?
Ta còn nhớ rõ, cữu cữu từng kể rằng năm ấy cha mẹ ta vừa mất, lo sợ Khiêm Châu loạn lạc, nên đưa ta đến đó.
Nhưng cữu cữu chưa từng nói… Triệu Gia Trọng cũng có mặt nơi ấy.
Keng một tiếng nhẹ vang, lan can đã được hắn đóng chặt.
Triệu Gia Trọng liếc mắt sang, lạnh giọng quát:
“Lão Ngũ, rượu uống say rồi phải không? Đây là quý nhân nhà chủ tử, chớ ăn nói bậy bạ.”
Lão Ngũ nhìn ta, mặt ngượng nghịu, đập tay lên trán, lảo đảo chắp tay thi lễ:
“Hầy, tiểu chủ tử thứ lỗi! Tại hạ mắt mờ không biết người cao quý, thất lễ, thất lễ.”
Triệu Gia Trọng không nhìn ta, chỉ nhàn nhạt nói:
“Hắn cứ hễ say là nói bậy. Ta chẳng phải tướng quân gì cả.”
Hắn thoáng nhìn ta, đôi mắt cụp xuống:
“Cũng chưa từng giữ ải trấn biên.”
Lão Ngũ bên cạnh như muốn nói lại thôi, vò đầu bứt tai, rút một ngụm rượu lớn như nuốt nghẹn nỗi lòng.
Ta còn đang ngập tràn nghi hoặc, chưa kịp mở miệng, thì từ phía bờ, một thiếu niên ốm o như cọng rơm cắm cổ chạy tới, vừa thở dốc vừa la lớn:
“Tướng quân! Mau về đi! Lão Canh lại gây sự với người ta ở quán trà rồi, lần này tức đến nỗi thổ huyết ra luôn đó!”
9
Cánh cửa nhỏ hẹp kia, chật ních người.
Mùi máu tanh, tiếng khóc lóc mắng nhiếc hòa vào nhau, ngập đầy gian nhà xám xịt, âm u.
Ta nhón chân, len ánh mắt qua kẽ hở giữa những bờ vai chen chúc, cố nhìn vào bên trong.
Người vừa nãy còn đứng giữa vườn hoa, vung cuốc mắng trời thay ta – lão Canh – lúc này áo vạt mở phanh, để lộ trước ngực đầy m.á.u me. Vài khúc xương sắc bén nhô cả ra ngoài da thịt gầy trơ, phập phồng theo hơi thở nặng nề, thô ráp như rít qua kẽ răng.
Miệng ông vẫn gào mắng, khản đặc mà cứng đầu, quyết chẳng chịu thua.
Một ngón tay trơ trụi da thịt gồng lên chỉ thẳng – chẳng rõ là muốn chỉ trời hay hỏi đất.
“Bọn… bọn tiểu tử lông tơ còn chưa mọc đủ… chúng nó biết cái quái gì là chiến trận! Lúc Kim nhân và kỵ binh Hoàn Vương kéo đến, chúng nó chạy còn nhanh hơn thỏ! Ai là người xông lên đầu tiên hả?!”
Ông ta đấm đấm lên ngực, như muốn móc cả trái tim ra để đòi cho được công bằng.
“Là ta! Là ta – cái thân già này, con ch.ết rồi, rể ch.ết rồi, bản thân cũng nửa thân vùi đất! Ta cởi áo cho chúng nó coi, nhìn cái mình đầy lỗ thủng vì đao kiếm – quân cựu Khiêm Châu ai chẳng có thương tích như thế? Nhưng chúng nó không tin! Không ai tin!”
Bên trong có người khuyên nhủ:
“Được rồi, Canh ca, chúng ta tin, chúng ta đều tin.”
Lão Canh nghẹn ngào gào lớn:
“Các ngươi tin có ích chi? Triều đình có tin không? Nhị gia có tin không? Ngay cả người nhà ta, làm đến Hoàng đế rồi mà cũng không chịu tin!”
Cánh tay Triệu Gia Trọng đang đặt trên cửa rung lên, gân xanh nổi bật, rồi “rầm” một tiếng – hắn đẩy tung cánh cửa, ánh sáng từ ngoài trời chiếu thẳng vào, chói lòa.
“Lão Canh!”
Bên trong tức thì im bặt.
Triệu Gia Trọng chắn trước tầm nhìn của ta, lặng lẽ đưa mắt ra hiệu cho Lão Ngũ đứng trên thuyền, giọng nặng trịch:
“Dẫn nàng đi, bịt miệng cho kín.”
Lão Ngũ lơ ngơ ợ một cái mùi rượu, gật đầu: “Vâng…”
Cửa đóng lại ngay trước mặt ta.
Ta chau mày, toan bước theo.
“Triệu…”
Lão Ngũ đã lẹ làng lách đến chắn trước cửa, cười xởi lởi:
“Tiểu chủ tử, trong nhà cái lão già ấy vừa bẩn vừa hôi, có gì đáng xem đâu. Người có muốn ra ngoài dạo không? Hai ngày nay có hội rước xuân thần ở miếu Sơn Thần, ngoài kia rực rỡ vui lắm, mấy tiểu cô nương tranh nhau cướp vòng hoa kìa.”
Hắn nói năng bỗ bã mà ánh mắt lại cẩn trọng, lễ phép, dùng mu bàn tay bọc trong tay áo nhẹ nhàng đẩy ta ra ngoài.
“Ta… ta không muốn đi.” Ta bất giác quay đầu lại, muốn nhìn xem lão Canh có việc gì chăng.
Lão Ngũ cười gượng, giả vờ không nghe:
“Ồ, muốn đi chơi à? Được, được, vậy thì mình chơi một trận cho đã đời!”
Hắn sức lực lớn thật, chẳng đến mức làm ta đau, nhưng cũng khiến ta không thoát được.
Miệng vẫn không ngừng dỗ:
“Không có chuyện gì đâu, cái lão già ấy cứ cách ba bữa lại nổi trận cuồng phong. Già rồi, phát dở thôi. Ngay cả Triệu ma ma còn chẳng buồn để tâm. Người xem bà ấy có ra đây không? Ờ, không có. Không đến tức là không sao rồi.”
Nghe thế, lòng ta cũng nguôi được phần nào.
Nhưng dọc đường hoa cỏ rậm rạp, lòng ta vẫn ủ ê buồn bã. Đến khi trông thấy hội “Tẩu thần” mà ma ma thường hay tán tụng là lớn lắm vui lắm, ta cũng chẳng còn chút hứng thú nào.
Không biết là do ma ma đã phóng đại, hay bởi lớn rồi chứng kiến quá nhiều phồn hoa phù phiếm, mà ta chỉ cảm thấy những đồng nam đồng nữ khiêng tượng Xuân thần kia thật u ám lặng lẽ, dải giấy ngũ sắc bay phấp phới cũng bạc màu, trắng nhợt đến mức toát ra một thứ gì đó chẳng lành.
Hoa kết thành vòng quả thật tươi mới, còn ướt đẫm sương, vừa được hái xuống từ cành. Lão Ngũ nhảy lên tranh vài cái đưa cho ta, cười hì hì:
“Hồi nhỏ ta giành được còn nhiều hơn nữa kìa. Chẳng qua giờ lớn rồi, da mặt mỏng, không thì mấy đứa trẻ ranh kia có cơ hội mà vênh vang chắc!”
Ta cúi nhìn vòng hoa trong tay, có cả nghênh xuân, hoa hạnh, lại có cả dã anh đào.
Ngẩng lên nhìn lão Ngũ, chỉ thấy hắn đã đội mũ, che đi vết sẹo hói do lửa thiêu, sắc đỏ say rượu trên má cũng tan đi, lúc này mới thấy rõ: hắn cũng chỉ là một thanh niên rất trẻ, đang ở độ tuổi nên lập công danh, dựng nghiệp lớn.
Thế mà lại bị mài mòn trong chiếc thuyền cũ kỹ, không thấy tương lai đâu.
Ta ngẫm nghĩ một hồi, liền nhẹ giọng hỏi thử:
“Lão Ngũ, các huynh đều từng vào quân ngũ, giữ cửa ải, lập công lao, theo lý thì triều đình phải ban thưởng. Dẫu không thăng quan vẫn được cấp ruộng tốt, lãnh bạc trợ cấp, tên tuổi còn được khắc bia truyền lưu tại địa phương. Cớ sao ta ở Khiêm Châu chưa từng nghe nhắc đến chuyện ấy?”
Rõ ràng là điều lệnh ban thưởng này, cữu cữu ta đã hạ chỉ từ năm ngoái khi mới đăng cơ.
Sắc mặt lão Ngũ khẽ biến, quai hàm khẽ siết lại, rồi lại nghiêng đầu cười gượng, lảng tránh không đáp:
“Tiểu chủ tử nói thế khiến ta ái ngại lắm, ngườii tôn quý như thế, gọi một tiếng ‘Lão Ngũ’ là đã nâng ta lên trời rồi.”
Hắn không tin ta.
Ta cụp mắt, thất vọng, ngón tay khẽ nghịch cánh hoa hạnh trong tay, thì thầm:
“Ta… cũng đâu phải thân phận gì tôn quý lắm đâu.”
“Người mà không phải, thì thiên hạ này ai dám xưng là có thân phận nữa?” Lão Ngũ cười rạng rỡ.
Ta khẽ cười, nhẹ lắc đầu.
Bên kia, nhạc đội thổi sáo gõ trống đi ngang, một cơn gió chéo thổi tới, lỡ đụng vào ta. Lão Ngũ lập tức cau mày, xắn tay áo túm lấy cổ áo kẻ vừa va vào:
“Ngươi mù hả? Không thấy người ta đang đứng đây à?!”
Ta vừa định đưa tay ngăn, nói “không sao đâu”, thì thấy lão Ngũ nhìn rõ mặt đối phương, liền mắng to:
“Tiểu manh tử! Con khỉ hoang nhà ngươi lại đi gây chuyện với ai nữa? Ba ngày không bị đánh là ngứa da phải không?”
Nhìn kỹ lại, thì ra là gã gầy còm đã chạy ra bờ nước báo tin khi nãy.
Người hắn rách rưới, ngang hông buộc cái đai đỏ không ra dáng gì, mặt thì xương xẩu chảy máu mũi, chân khập khiễng, ngẩng mặt nói đầy ngang ngược:
“Liên quan quái gì đến ngươi!”
Lão Ngũ chau mày, lấy tay áo lau máu trên mặt hắn, đột nhiên sắc mặt nghiêm trọng, hỏi gấp:
“Ngươi đã đánh nhau với ai rồi?”
Tiểu manh tử vẫn cứng đầu, lặp lại:
“Liên quan gì đến ngươi!”
Lão Ngũ trầm mặc, tay đè lên vai hắn.
“Ngươi đi gây với đám nha dịch rồi.”
Tiểu manh tử nghiến răng, nghển cổ lộ ra vết sẹo dữ tợn:
“Thì sao? Chúng nó dám ức hiếp lão Canh, tức là ức hiếp chúng ta – đám lính cũ của Khiêm Châu. Các ngươi thì sợ đông sợ tây, còn lão tử? Lên thôi! Gi.ết người chẳng qua cái gật đầu! Lão tử bị đâm ch.ém chưa đủ chắc?!”
Lão Ngũ giận đến mức tay giơ lên cao rồi lại chẳng đánh xuống nổi, vội quát:
“Ngươi làm vậy là khiến tướng quân gặp họa đó! Có đánh ch.ết người không? Đánh ở đâu?”
Tiểu manh tử ban đầu mím môi không đáp, không chịu nổi mấy cú đấm từ Lão Ngũ, cuối cùng nghiến răng, chỉ về phía sau hẻm:
“Ai mà biết có ch.ết hay không…”
Lão Ngũ vội vã chạy đi, giữa đường còn ngoái đầu lại, dặn dò:
“Bảo vệ tiểu chủ tử trở về an toàn đấy!”
Gió ào qua, lá cũ rơi lả tả dưới chân.
Ta và tiểu mảnh que đưa mắt nhìn nhau, hắn đảo mắt đánh giá ta một lượt, chân run run, hỏi cộc lốc:
“Ngươi là ai vậy?”
Nhìn hắn, ánh mắt ta chợt lóe lên. Người có thể nói ra sự thật… ta tìm được rồi.
Xuân dương rạng rỡ, ta mím môi, khẽ nở một nụ cười dịu dàng:
“Tiểu tướng quân?”
Tiểu manh tử sững người, m.áu mũi chưa khô chảy cả vào miệng, sụt sịt hỏi lại:
“Cái… cái gì cơ?”
10
Ta đi mua chuộc hắn bằng một gói gà nướng, hai xiên kẹo sư tử.
Thiếu niên kia hai bên miệng dính dầu mỡ, má phồng lên nhai nhóp nhép, nói năng chẳng rõ:
“Hừm… ngươi đừng tưởng lấy lòng ta thì ta sẽ kể chuyện về tướng quân cho ngươi nghe. Ta không phải kẻ phản bội đâu nhé.”
Ta chắp tay sau lưng, đi ngược chầm chậm trên chiếc cầu nước:
“Ta đâu có ép ngươi nói chuyện quân cơ. Chỉ cần biết thêm chút ít về hắn, ta đã thấy vui lòng lắm rồi.”
Tiểu tử gầy nhẳng kia liếc ta một cái, chậc chậc miệng, làm ra vẻ thâm trầm:
“Cô nương à, chớ có si mê quá đỗi. Người thương tướng quân nhà ta nhiều vô kể, mà chưa từng ai thấy hắn động lòng. Đừng nói liếc mắt đưa tình, đến nhìn một cái cũng chẳng có. Ngươi biết vì sao không?”
“Vì sao?” Ta nghiêng đầu hỏi.
Hắn ăn hết gà nướng, đưa tay lau miệng, lắc đầu như ông cụ non, chỉ tay về phía chân trời.
Lúc ấy, hoàng hôn dần lặn, sắc chiều trải xuống mặt sông, xanh thẫm pha lẫn ánh vàng, gió bắt đầu lạnh, thổi tan lớp sương mỏng trên đỉnh núi, để lộ ra vầng trăng khuyết mờ mờ sau rặng mây.
“Ta nguyện lòng này soi trăng sáng…” – Hắn phẩy tay ngâm nửa câu, rồi lại chỉ về phía ngã ba phố, than dài:
“… nào hay trăng sáng soi bùn cống.”
Tiểu tử khoe mẽ chữ nghĩa, hạ giọng nói tiếp:
“Nói trắng ra nhé… tướng quân đã có người trong lòng. Dẫu kẻ ấy mù mắt, theo kẻ khác mà chạy mất, nhưng tướng quân lại cố chấp, chỉ nhận định nàng. Dẫu có tiên nữ hạ phàm, e rằng cũng không lay nổi trái tim sắt đá ấy.”
Không hiểu sao, ta lại thấy như thể bị mắng thẳng vào mặt. Ta đưa tay sờ mũi, nhỏ giọng bênh vực:
“Tướng quân nhà ngươi tốt như vậy, biết đâu nàng kia có nỗi khổ riêng?”
Tiểu tử bật cười lạnh:
“Nỗi khổ cái quỷ! Chẳng phải là xem thường tướng quân hay sao? Dẫu có bản lĩnh ra sao, trong mắt nàng ta, hắn cũng chỉ là kẻ bị nhà nàng bỏ tiền ra mua về. Một kẻ thấp hèn. Cả nhà nàng đều vậy, ngoài mặt thì đạo mạo như Phật, nhưng trong lòng lại khinh người tận xương tủy, sợ bọn ta làm bẩn mắt họ.”
“Ta nói thật, dù người nhà nàng có leo lên tận trời, ta cũng chẳng xem ra gì.” Hắn hất tay ra sau, giọng đầy khinh miệt.
Dưới ánh sáng âm u, hắn gầy guộc đến mức trông như người giấy trong tiệm đồ mã, gương mặt dài trắng bệch, chỉ có đôi mắt đen sâu thẳm như đang đốt dở than hận.
“Trong mắt họ, chỉ những kẻ xuất thân cao quý mới được gọi là người. Còn bọn ta… chẳng qua là những hòn đá để họ giẫm lên mà leo lên quyền thế. Thậm chí, không bằng chó lợn.”
Ta nhất thời không biết đáp lời thế nào, chỉ đứng đờ ra, lặng lẽ nhìn hắn.
Tiểu tử cong môi cười, nhưng trong mắt chẳng có lấy một tia ấm áp. Hắn siết chặt viên kẹo sư tử trong tay, lặng lẽ chìm vào hồi ức.
“Nói ra ngươi có lẽ không tin. Ban đầu nhà ta chưa từng nghĩ ta sẽ cầm đao gi.ết người. Từ nhỏ ta đã yếu ớt, ngoài đọc sách ra thì cầm cái cuốc cũng không nổi. Cha mẹ ta nhịn ăn nhịn uống, chỉ mong ta học thành tài, dù chỉ đỗ tú tài, cũng coi như có đường ra.”
Triều trước trọng văn khinh võ, con nhà nông nghèo chỉ có một con đường duy nhất: đọc sách cầu công danh.
Thế nhưng, đường của tiểu tử đó… không thuận lợi như mong muốn.
Tiểu tử thi đỗ, lại là mười ba tuổi đã là tú tài, tiền đồ rạng rỡ.
Nhưng bảng vàng không có tên hắn. Rành rành trên đó, là tên của con trai tri huyện.
“Hôm ấy ta quỳ trước nha môn cả đêm, ta không hiểu… rõ ràng ta làm bài, sao lại chẳng tìm được quyển thi của mình?” Tiểu tử chớp mắt, thẫn thờ, “Ta không dám về nhà. Cha mẹ đã già, chỉ trông ta thành danh. Ta nghĩ đời ta thế là hết… hay là nhảy sông cho xong.”
Hắn tựa vào lan can, lần này nở nụ cười chân thật:
“Chính bên dòng sông này, ta đã leo lên thành cầu, định nhảy… thì tướng quân kéo ta lại, cho ta một con đường khác để sống.”
Chính là tòng quân.
Khi ấy, Hoàn vương tạo phản, thiên hạ đại loạn, anh hùng xuất thế.
Tiểu tử cũng chẳng hiểu vì sao lại tin tưởng nam tử ấy.
“Chỉ vì ta thấy đôi mắt của ngài ấy.” Tiểu tử nhớ lại “Sáng ngời, như có thể chiếu rọi hết thảy u minh tà khí. Ngài ấy bảo phải đến Ngọc Châu, nơi có tiểu chủ nhân của ngài ấy. Ngài ấy phải đánh một con đường công danh để đón nàng ấy về, bảo vệ nàng, bằng không ch.ết cũng không cam lòng.”
Mặt trời sắp khuất hẳn sau núi, ráng chiều tắt lịm phản chiếu xuống mặt nước thành sắc tím u buồn.
Trong bóng tối, môi ta run nhè nhẹ.
Tiểu tử ngẩng đầu, thở dài:
“Ta vốn là một kẻ gi.ết gà còn sợ, vậy mà sau này, ta không nhớ nổi mình đã chặt bao nhiêu cái đầu, người Hán, người Kim, đều có.
Ta cũng không nhớ bên ta đã ch.ết bao nhiêu người, thậm chí đến tên của những huynh đệ mới nhập ngũ cũng không dám hỏi, bởi vì không ai biết ngày mai liệu người cùng vai kề gối hôm nay, có còn sống để cười với mình không.”
Sát phạt… vô cùng vô tận.
Những người con quê nghèo ấy ngỡ rằng, cầm đao ra trận sẽ đổi được một tương lai, một cuộc sống như con người thật sự.
“Vương hầu vương tướng, há phải thiên sinh?” Sách vở chẳng phải đã dạy như vậy sao?
“Chó má!” Hắn bật cười, chua chát:
“Toàn là chó má cả! Binh lính Khiêm Châu ta chém đầu địch nhiều nhất, mà ghi công lại ít nhất. Công đâu rồi? Về tay những công tử thế gia ngồi trong trướng, phe phẩy quạt lông, nói chuyện binh pháp như diễn trò. Mà trên triều lại cần chúng ta ra sức, liền tiện tay ban cho tướng quân cái chức thiên hộ, để tướng quân liều mạng thay cho bọn họ.”
Con trai của thế gia…
Ngón tay ta khẽ run lên, trong đầu chợt lóe lên một khả năng lạnh buốt chạy dọc sống lưng.