Trọng Sinh Trở Về - Chương 3
Lý Lẫm Xuyên đưa tay vịn chặt lấy lồng ngực, lảo đảo như thể vừa bị ai đó rút sạch đi toàn bộ sinh khí:
“Nhưng đó là chuyện của tiền kiếp! Đời này cô đã sớm mưu tính vẹn toàn, từ ca ca nàng, mẫu gia nàng, cho đến cả Hạo nhi nữa, cô đều sẽ sắp xếp thỏa đáng…”
Ta nỗ lực đè nén tâm tình đang cuộn sóng, gằn từng chữ:
“Hứa gia vốn là dòng dõi hoàng thương mấy đời, ca ca ta lại là bậc chân tài thực học. Chỉ cần Điện hạ đừng nhúng tay vào, đừng âm thầm cản trở, họ tự khắc sẽ có được một đời hiển đạt, vinh hiển an yên!”
Lý Lẫm Xuyên khuỵu gối quỳ sụp xuống trước mặt ta, hắn thô bạo bóp chặt cằm ta, ép ta phải ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên nhìn hắn:
“Vậy còn Hạo nhi thì sao? Hứa Ý Như, lòng dạ nàng sao mà sắt đá đến thế, ngay cả cốt nhục do chính mình mang nặng đẻ đau mà nàng cũng nhẫn tâm vứt bỏ hay sao?”
“Bằng không thì sao?”
Cổ họng ta như bị ai đó bóp nghẹt, một nỗi cay đắng, xót xa nghẹn ứ nơi lồng ngực không cách nào nuốt xuống được. Ta dùng hết toàn bộ sức bình sinh mà gào thét lên trước mặt hắn:
“Bằng không thì ta phải làm sao? Lạ sinh nó ra một lần nữa, để nó phải chịu chung số phận với ta, bị giam cầm cho đến ch*t trong cái lồng son cung đình bốn phương xám xịt kia sao?
Hạo nhi của ta cho đến năm mười bảy tuổi, chưa từng một lần được bước chân ra khỏi hoàng cung! Các vị hoàng huynh đệ coi nó như cái gai trong mắt, cái thịt trong xương; phụ hoàng của nó thì muốn nó phải khúm núm phục tùng, ngu muội ngoan ngoãn làm một con rối không hồn! Nó chưa từng được ngắm nhìn giang sơn gấm vóc, chưa từng biết thế nào là đất rộng trời cao!”
Ta nghẹn ngào, đau đớn thốt nốt những lời cuối cùng:
“Trước lúc nhắm mắt xuôi tay, nó đã nắm lấy tay ta mà nói: ‘A mẫu, kiếp sau… kiếp sau xin người hãy để nhi tử làm một chú chim tự do giữa đại ngàn, một con cá thỏa chí vẫy vùng nơi biển rộng, xin người đừng mang nhi tử đến cái lồng giam tù túng này nữa…’. Lý Lẫm Xuyên! Ngài vừa muốn giữ trọn cái danh tiếng minh quân truyền đời của mình, lại vừa muốn đem cả cuộc đời ta ra làm quân cờ vật tế, sao ngài lại tàn nhẫn đến thế?”
Ta dùng sức gạt phắt bàn tay đang kìm kẹp của Lý Lẫm Xuyên ra, lảo đảo đứng dậy, loạng choạng bước ra phía cửa đại điện. Hắn từ phía sau lao tới, níu chặt lấy vạt áo của ta, ngữ điệu đã mang theo vài phần khẩn khoản van nài:
“Ý Như… cô biết mình sai rồi. Nàng cho cô thêm một cơ hội nữa, có được không?”
Ta khẽ nhếch môi nở một nụ cười giễu cợt, lạnh lùng gỡ từng ngón tay của hắn ra khỏi vạt áo mình:
“Điện hạ chí hướng làm minh quân, mà hành vi sỉ nhục thần tử, cưỡng đoạt thần thê thế này, không sợ để lại tiếng nhơ vạn năm cho hậu thế phỉ nhổ sao?”
10
Vừa bước chân về tới phòng khách ở hậu viện, ta liền đổ sụp xuống đất, toàn thân không còn chút huyết sắc. Nha hoàn bên người kinh hãi thất sắc, vội vàng lao đến đỡ ta dậy.
“Mau… mau đi thắng xe.” Ta bấu chặt vào tay con bé, gắng gượng gào lên, “Chúng ta phải đi ngay đêm nay, lập tức hồi thành!”
Bên ngoài trời đã bắt đầu đổ mưa xối xả. Đường núi hiểm trở, sạt lở bùn lầy, bánh xe ngựa chốc chốc lại bị sa lầy, kẹt cứng tại chỗ, tráng đinh phải xuống xe để dọn dẹp chướng ngại vật.
Thế nhưng, lần này cỗ xe dường như dừng lại lâu một cách bất thường. Những âm thanh ồn ã bên ngoài cứ thế lịm dần đi rồi tắt hẳn. Ta nghi hoặc vén rèm xe lên nhìn ra ngoài. Đúng lúc ấy, một tia chớp rạch ngang bầu trời đêm, đem thiên địa nhuộm thành một màu trắng xóa, thê lương.
Chỉ trong một khoảnh khắc ấy, ta đã nhìn rõ mọi sự ở phía trước. Xung quanh cỗ mã xa của ta đã bị tầng tầng lớp lớp thị vệ vây kín như nêm cối. Đám nha hoàn, gia đinh của phủ Thái thú đều bị nhét giẻ vào miệng, hai tay bị trói quặt ra sau, bị ép quỳ rạp trên nền đất sũng nước.
Lý Lẫm Xuyên đang đứng ngay cạnh cửa xe, chầm chậm đưa tay về phía ta:
“Nếu nàng không muốn nhìn thấy họ phải đầu lìa khỏi cổ, thì hãy bước xuống xe đi.”
Ta lạnh lùng gạt tay hắn ra, để mặc cho hai mụ ma ma thô bạo áp giải lên chiếc kiệu liễn xa hoa của hắn.
Lý Lẫm Xuyên ngồi ngay đối diện ta trong không gian chật hẹp. Ta nhìn thẳng vào mắt hắn, gằn giọng:
“Trên khinh bỉ thánh hiền, dưới cưỡng đoạt thần thê, Điện hạ không sợ miệng lưỡi thế gian, công luận của thiên hạ hay sao?”
Sắc diện của Lý Lẫm Xuyên vẫn bình lặng như mặt hồ không chút gợn sóng:
“Như nhi không cần phải lo lắng cho cô. Hứa gia Nhị tiểu thư lên chùa lễ Phật, lúc trở về không may sẩy chân ngã xuống vách núi sâu… Như nhi thấy lý do này có hợp tình hợp lý không?”
Bên trong kiệu liễn nhất thời rơi vào một khoảng tịch mịch đến đáng sợ. Lý Lẫm Xuyên khẽ gọi ma ma tiến vào, dùng một chiếc gấm khăn siết chặt lấy miệng ta, lại dùng những dải lụa mềm trói chặt tay chân ta lại.
Bên ngoài, gã cận thị hạ thấp giọng truyền đạt mật lệnh của Đông cung:
“Kinh thành có chiếu chỉ khẩn cấp triệu hồi, lệnh cho Điện hạ lập tức hồi cung. Các ngươi mau chóng thúc ngựa đi trước dẫn đường, thông tri cho quan thuyền túc trực sẵn ở bến sông!”
Ta quay mặt đi hướng khác, không thèm nhìn đến dung mạo của Lý Lẫm Xuyên thêm một lần nào nữa, trong lòng chỉ biết thầm khấn nguyện thần Phật, cầu mong trưởng tỷ có thể đi nhanh hơn một chút, nhanh hơn một chút nữa…
11
“Sang bên kia tìm xem!”
“Ngươi dẫn người lên phía trước kiểm tra, hình như phía trước có động tĩnh!”
Giữa tiếng mưa gió gào rít dữ dội, bên tai ta loáng thoáng vẳng đến tiếng bước chân hỗn loạn cùng tiếng vó ngựa dồn dập. Cỗ kiệu liễn đang lao đi bỗng nhiên khựng lại.
Tiếp đó là giọng nói lanh lảnh, chói tai của gã nội quan vang lên hạch hỏi:
“Kẻ nào mật phục nơi này, dám cả gan làm loạn đường đi của quý nhân?”
“Tại hạ là Tạ Hoài Dữ, phu nhân nhà ta hôm nay lên núi dâng hương, đường mưa trơn trượt khó đi, tại hạ đặc biệt tới đây để đón phu nhân hồi thành.”
Lý Lẫm Xuyên tự tay vén rèm kiệu lên một góc nhỏ, nghiêng mình bước ra ngoài, thản nhiên nói:
“Nếu đã như vậy, bách tính tránh đường, xin mời biểu huynh đi trước cho.”
Tạ Hoài Dữ đứng chắn ngay trước đầu xe ngựa, thân hình vững chãi như bàn thạch, không hề có ý định nhường bước:
“Phương trượng trong chùa nói phu nhân nhà ta đã xuống núi từ sớm, thế nhưng tại hạ xuôi theo con đường độc đạo này tìm kiếm bấy lâu, lại chẳng thấy tăm hơi phu nhân đâu, ngược lại lại tình cờ tương ngộ với Điện hạ tại chốn này.”
Thanh âm của Lý Lẫm Xuyên bỗng chốc trở nên lạnh lẽo như băng tuyết, mang theo uy nghiêm tối thượng không thể khước từ của bậc quân vương:
“Tạ công tử thốt ra lời này, là đang hoài nghi phu nhân của ngươi đang ở chỗ của cô sao?”
“Có ở đây hay không, chỉ cần tìm kiếm một phen là rõ.”
“Xoảng!”
Tiếng kiếm tuốt vỏ bén ngót vang lên khô khốc giữa màn đêm. Lý Lẫm Xuyên giận quá hóa cười:
“Tạ Hoài Dữ, ngươi đây là muốn mưu phản hay sao?”
Tiếng ngựa hí vang trời, ánh lửa từ những cây đuốc lập lòe chao đảo trong đêm mưa bão. Giữa lúc lưỡi kiếm của đôi bên sắp sửa chạm nhau phát ra tiếng binh khí va chạm, thốt nhiên, có một thanh âm trong trẻo, điềm đạm nhưng đầy sức nặng xuyên qua màn mưa gió, lọt vào tai mọi người:
“Điện hạ.”
12
Là Thái tử phi đã đến.
Hết thảy đám người hầu cận, thị vệ đều đồng loạt quỳ rạp xuống đất mà tung hô vái lạy. Trái tim dồn dập, bất an suốt dọc đường đi của ta, đến giờ phút này cuối cùng cũng có thể bỏ xuống mà an định trở lại.
Hóa ra, trước khi ra hầu chuyện Lý Lẫm Xuyên tại thiền phòng, ta đã kịp ghé tai dặn dò trưởng tỷ, bảo tỷ ấy lập tức đi tìm cầu viện Thái tử phi. Trời đổ mưa lớn đến nhường này, nhưng ta đoan chắc rằng nàng ấy nhất định sẽ đích thân tới đây.
Bởi lẽ ở kiếp trước, ta thường xuyên mang theo Hạo nhi vào cung bầu bạn với nàng. Nơi Phượng Nghi cung nguy nga ấy bài trí không biết bao nhiêu là kinh thư cổ tịch, thảy đều là những cuốn sách vô cùng thâm sâu và hóc búa, vậy mà nàng lại có thể đọc một cách say sưa, tường tận.
Nàng từng bảo với ta, nữ nhi Thôi gia từ thuở nhỏ đã được theo học tại học đường, luận về tài làm văn sách, sách lược của nàng còn xuất sắc hơn cả các vị huynh trưởng trong nhà nhiều. Nàng từng theo chân phụ mẫu chu du khắp bốn phương trời, lập chí lớn muốn làm một vị ngôn quan nơi gián viện, có thể đứng trước triều đình mà can gián quân chủ, thanh lọc chốn quan trường.
Thế nhưng, thân là nữ nhi thì làm sao có thể bước chân vào chốn quan lộ, tham chính nghị luận?
“Trường hận la y yểm thi cú, cử đầu không tiễn bảng trung danh.” (Hận mãi tấm áo lụa là che mất câu thơ hay, ngẩng đầu chỉ biết luống công ngưỡng mộ cái tên trên bảng vàng).
Khi thốt ra lời ấy, nàng đã lặng lẽ hướng mắt nhìn ra ngoài song cửa, trầm mặc hồi lâu. Nàng bảo:
“Cho nên, khi nhận được chiếu chỉ tuyển chọn làm Thái tử phi, trong lòng ta đã rất hoan hỷ. Chu Lễ có chép: ‘Hậu tiến hiền tài dĩ phụ tá quân tử, ai yểu điệu nhi bất dâm kỳ sắc’ (Hoàng hậu tiến cử bậc hiền tài để phò tá quân tử, thương xót bậc thục nữ nhu mì mà không ham mê sắc dục). Ta nghĩ, đây có lẽ cũng là một cách khác để ta có thể hoàn thành chí nguyện làm một bậc gián thần.”
Thế nhưng, triều đại nhà Chu đến nay đã trôi qua cả ngàn năm lịch sử rồi.
Kiếp trước sau khi Lý Lẫm Xuyên đăng cơ, hắn quyết ý hưng công trị thủy, tu sửa dòng sông Hoàng Hà.
Đám quan lại trong triều cấu kết bè phái, tham ô nhũng nhiễu, kinh phí triều đình phát xuống để trị thủy bị chúng tầng tầng lớp lớp xà xẻo, ăn chặn, số bạc thực sự được dùng để đắp đê ngăn lũ chẳng được tới một phần mười.
Năm ấy, Dự Châu gặp trận mưa lớn kéo dài, đê Hoàng Hà vỡ trận, bách tính rơi vào cảnh lầm than, lưu ly thất sở, khắp đất Dự Châu tiếng oán than dậy đất, thây chất đầy đồng.
Đại Lý Tự đứng ra chủ trì tra xét đại án này, số quan viên hà đạo nhúng tay vào việc biển thủ, tham ô công ngân triều đình lên tới cả trăm người.
Thế nhưng, Lý Lẫm Xuyên vì không muốn gánh chịu cái danh tiếng là kẻ hiếu sát, bèn chọn cách “giơ cao đánh khẽ”, chỉ đem vài tên đầu sỏ ra tịch biên tài sản, lưu đày biệt xứ, còn lại đám quan viên lớn nhỏ khác thảy đều chỉ bị quở trách qua loa, phạt bổng lộc là xong chuyện.
Nàng nghe tin, liền lập tức vận triều phục nghiêm trang, quỳ rạp suốt mấy ngày đêm không đứng dậy trước cửa Tuyên Chính điện. Nàng khẩn cầu Lý Lẫm Xuyên phải hạ lệnh nghiêm khắc bắt buộc đám quan lại hà đạo lớn nhỏ kia phải hoàn trả toàn bộ số công ngân đã thâm hụt, kẻ nào quá hạn không trả nổi thì lập tức áp giải ra pháp trường xử trảm thị chúng để răn đe thiên hạ.
Triều dã một phen chấn động dữ dội. Lý Lẫm Xuyên tức giận đùng đùng, lập tức hạ chỉ phế truất, giam cầm Hoàng hậu Thôi thị vào sâu trong Phượng Nghi cung, nếu không có mật chiếu thì vĩnh viễn không được bước chân ra ngoài nửa bước.
Trên tờ thánh chỉ phế hậu ấy, tội danh của nàng bị liệt kê ra rành rành từng tội một: Hậu cung can chính, dòm ngó quyền bính triều đình, không có con cái để nối dõi tông đường, đố kỵ độc ác, không có lòng dung thứ đối với các phi tần khác…
Đám quan lại tham ô may mắn thoát ch*t sau đại nạn ấy, đều cảm ân đức lớn lao của hoàng thượng, những bài thơ ca tụng công đức “nhân từ” của minh quân cứ thế bay về ngự án nhiều như tuyết rơi ngày đông.
Nàng mới chính là bậc hiền hậu chân chính của thiên hạ, còn Lý Lẫm Xuyên… chẳng qua chỉ là một kẻ ngụy quân tử, giả danh minh quân mà thôi.
13
“Thái tử phi。” Lý Lẫm Xuyên cất tiếng, ngữ điệu trầm thấp một cách nguy hiểm, “Nàng đến đây làm gì?”
Thôi Uyển Thanh gấp gáp, lúc nói chuyện lồng ngực vẫn còn khẽ phập phồng suyễn tức: “Mời tất cả lui ra, bổn cung có chuyện cần thương nghị cùng Điện hạ.”
Gia đinh, tùy tùng hai bên nghe lệnh dần dần lui ra xa. Khí độ của Thôi Uyển Thanh kiên định mà quyết tuyệt, nàng khảng khái nói: “Thần thiếp khẩn cầu Điện hạ mở cửa kiệu để kiểm tra.”
Bên ngoài liễn xa rơi vào một khoảng trầm tịch đáng sợ. Chỉ một lát sau, thốt nhiên vang lên một tiếng động nặng nề chạm đất, ta nghe thấy tiếng trưởng tỷ ở phía xa kinh hãi thốt lên: “Nương nương!”
Thanh âm của Thôi Uyển Thanh vẫn bình thản như không: “Thần thiếp thân là Thái tử Chính phi, có trách nhiệm chỉnh đốn, nghiêm túc nội vi Đông cung. Đêm nay xa giá của Điện hạ xuất tuần, nghi có nữ tử thân phận bất minh ở bên trong. Nếu thần thiếp ngồi nhìn không quản, e rằng thanh dự của Điện hạ khó bảo toàn, thể diện Đông cung đều mất sạch, lễ pháp triều đình tự bấy lâu nay cũng theo đó mà băng hoại. Bởi vậy, thần thiếp mạo muội cam tâm chịu ch*t, quỳ xin Điện hạ mở cửa xe, dung cho thần thiếp được vào kiểm nghiệm.”
Gió lạnh từ bốn phương tám hướng cuồn cuộn ùa về. Giữa những tiếng thịnh nộ quát tháo và trách phạt hỗn loạn, ta nghe thấy có tiếng bước chân của một người từng bước, từng bước vững chãi tiến về phía mình.
Màn kiệu dứt khoát bị vén lên, Tạ Hoài Dữ dang tay ôm chặt ta vào lòng.
Cách đó chừng ba bước chân, Thôi Uyển Thanh đang ngang tàng kề lưỡi kiếm sắc bén vào cổ mình, đem tấm thân mảnh mai chắn ngay trước mặt Lý Lẫm Xuyên. Ta hốt hoảng lao tới, ôm chầm lấy nàng. Thân thể nàng có một khoảnh khắc cứng đờ ra vì kinh ngạc, nhưng rồi lập tức dịu xuống, khẽ vuốt ve mái tóc mai của ta: “Hứa cô nương, đừng sợ.”
Ta ghé sát vào tai nàng, dùng phong thanh cực thấp và nhanh nhất mà thốt lên: “Nương nương, hồi cung rồi, xin hãy kiểm tra lại thuốc của người!”
14
Kiếp trước, Thôi Uyển Thanh từng có hai lần mang thai, một lần ở Đông cung, một lần tại Phụng Nghi cung. Thế nhưng cả hai lần ấy, nàng đều không cách nào giữ nổi cốt nhục của mình cho đến ngày khai hoa nở nhụy.
Thuở ấy lưu ngôn phỉ ngữ đồn thổi khắp nơi, thảy đều đổ vấy cho nữ nhi Hứa gia ta là kẻ tâm địa độc ác, đứng sau giật dây hãm hại. Ta từng hoang mang lo sợ đến tìm nàng, lắp bắp biện bạch: “Nương nương, thực sự không phải là ta làm…”
Khi đó thân thể nàng đã sớm suy nhược, gầy gò, nàng chỉ uể oải tựa mình vào chiếc sập mềm, trao cho ta một nụ cười an ủi: “Ta biết không phải là muội.”
“Nương nương đã biết kẻ đó là ai, cớ sao lại không ra tay trừng trị?” Ta hạ thấp giọng hỏi.
Nàng vẫn nhẹ nhàng vuốt tóc ta, thở dài: “Ý Như à, lúc ta biết được sự thật… thì mọi chuyện đã quá muộn màng rồi.”
Từ đó về sau ta không dám gặng hỏi thêm lời nào nữa. Mãi cho đến tận sau này, khi các vị hoàng tử ngày một khôn lớn trưởng thành, ta nhìn thấy ánh mắt mà Lý Lẫm Xuyên nhìn chúng ngày càng hiện rõ vẻ kiêng dè, phòng bị, lúc ấy ta mới bàng hoàng đại ngộ, kẻ thủ ác mà Thôi Uyển Thanh nhắc đến năm xưa rốt cuộc là ai.
Thôi gia thế lực hiển hách, ngoại thích can chính chiếm quyền vốn dĩ luôn là cơn ác mộng vĩnh hằng của mỗi một vị đế vương.
Kiếp trước vào thời điểm này, Thôi Uyển Thanh không hề có mặt ở đất Giang Nam. Nàng khi ấy vừa mới thụ thai, được giữ lại trong Đông cung để tĩnh dưỡng thân thể. Đứa trẻ đáng lẽ phải có ở kiếp trước, nay sang kiếp này lại chẳng thấy tăm hơi đâu.
Ta nghe trưởng tỷ nói, nơi viện lạc của Thái tử phi lúc nào cũng nghi ngút khói lửa, ngày ngày sắc một lò “Chủng ngọc thang”.
Lý Lẫm Xuyên nói chẳng sai chút nào, trùng sinh một đời này, hắn quả thực đã mưu tính vẹn toàn, chuẩn bị chu tất đến mức tàn nhẫn.
15
Bên trong cỗ mã xa lăn bánh hồi thành, ta rúc đầu sâu vào lồng ngực ấm áp của Tạ Hoài Dữ, khẽ hỏi: “Sao chàng lại đến đây?”
“Ta đã mơ một giấc mộng dài.” Tạ Hoài Dữ khẽ siết chặt vòng tay, giọng trầm mặc, “Trong mộng, ta thầm thương trộm nhớ nàng suốt nhiều năm trời. Để bày tỏ tấc lòng, ta còn nhờ mẫu thân vào cung cầu xin ý chỉ ban hôn của Hoàng hậu nương nương. Thế nhưng đạo ý chỉ ấy đợi mãi chẳng thấy đâu, đến khi ta dò hỏi lại thì mới hay tin nàng đã phụng chỉ tiến nhập Đông cung.
Sau này nàng trở thành Hoàng quý phi đứng trên vạn người, sinh hạ hoàng tử, vậy mà trước sau chẳng thấy một bức gia thư nào gửi về quê nhà. Vừa vặn lúc ấy Hoàng tử sở lại thiếu một vị tiên sinh dạy học, ta bèn tự xin từ quan, tình nguyện vào cung dạy dỗ các hoàng tử, chỉ để cầu được gặp nàng một lần.
Nàng ở chốn thâm cung sống không hề vui vẻ, nhưng cũng may còn có tiểu hoàng tử sớm hôm kề cận, bầu bạn. Chỉ là thế sự trêu ngươi, sau đó lại xảy ra quá nhiều biến cố kinh thiên động địa… Ta giật mình tỉnh giấc khỏi cơn ác mộng ấy, thốt nhiên trong lòng cảm thấy vô cùng bất an, chỉ muốn lập tức được nhìn thấy nàng.”
Tiền trần như mộng ảo, ta nghe xong không khỏi sinh lòng u uất, thở dài: “Chẳng qua cũng chỉ là một giấc mộng mà thôi, vậy mà chàng cũng chịu đêm ngày thúc ngựa, từ Kim Lăng xa xôi chạy gấp về đây sao?”
Tạ Hoài Dữ thoáng khựng lại một nhịp: “Bởi vì trong mộng… nàng đã khóc đến khôn nguôi, vô cùng thương tâm.”
Kỳ thực, hắn vẫn còn một lời chưa nói cùng ta. Trong giấc mộng ấy, trước khi Hạo nhi nhắm mắt xuôi tay, đứa trẻ đã từng gặp hắn một lần cuối.
Nó nói: “Tiên sinh, nếu có kiếp sau, xin thầy đừng đến muộn nữa…”
Tình nghĩa thầy trò gắn bó bao năm, hắn làm sao không hiểu đứa học trò tài hoa nhưng đoản mệnh của mình đang ám chỉ điều gì. Trên giường bệnh năm ấy, thân hình thiếu niên gầy gò đến mức hai má hóp sâu, duy chỉ có đôi mắt là sáng lên một cách kinh người. Hắn nhẹ nhàng tém lại góc chăn cho nó, thở dài: “Dẫu cho có kiếp sau, con người ta cũng đâu thể biết trước được tương lai, chưa bói đã thông.”
Nghe vậy, Hạo nhi liền nở một nụ cười. Tạ Hoài Dữ tự bấy đến nay chưa từng thấy nó cười một cách nhẹ nhõm, thanh thản đến nhường ấy.
Nó bảo: “Vậy thì con sẽ báo mộng cho tiên sinh.”
16
Thái tử rốt cuộc cũng vội vã phụng chỉ hồi kinh.
Hắn vốn dĩ phụng mệnh đến Giang Nam để thanh tra đại án thuế muối, thế nhưng tra xét đến cuối cùng, lại chỉ qua loa đại khái xử phạt vài tên thương hộ nhỏ lẻ. Quan viên trong triều nhao nhao dâng sớ ca tụng Thái tử nhân đức, khoan hồng.
Thế nhưng, giữa những tiếng ca công tụng đức rầm rộ ấy, trên phố thị bỗng nhiên rộ lên phong thanh lời đồn đại rằng Thái tử đương triều thấy sắc nảy lòng tham, có hành vi cưỡng đoạt thần thê. Các vị hoàng huynh đệ của Thái tử nghe ngóng được tin, liền thay nhau phái người tới Giang Nam mật tra thực hư. Tạ Hoài Dữ sợ danh tiết của ta bị tổn hại, bèn dùng trăm phương ngàn kế phong tỏa, bịt chặt mọi tin tức.
Ngay vào lúc sóng gió kinh thành tưởng chừng như đã lắng xuống, Thôi Uyển Thanh lại bất ngờ xuất hiện, hiên ngang tiến tới trước cửa cung đánh vang hồi trống Đăng Văn.
Nàng đứng trước đại điện, dõng dạc tố cáo Thái tử hai đại tội trạng:
Một là, bao che tội phạm tham ô, tuần tình tư vị, làm trái pháp luật. Đại án thuế muối Giang Nam, Thái tử phụng chỉ triều đình đi thanh tra nhưng lại không nghiêm minh chính pháp, dung túng cho lũ sâu mọt, khiến pháp độ triều đình hoàn toàn biến thành trò hề.
Hai là, tâm địa độc ác, ngầm hạ độc dược làm tuyệt tự diệt luân. Hắn phái người âm thầm hạ hồng hoa vào trong thuốc dưỡng thân của nàng, khiến khí huyết của nàng ngưng trệ, vĩnh viễn đoạn tuyệt đường con cái.
Khi tin tức này truyền đến tai ta thì Thôi Uyển Thanh đã bị áp giải vào ngục tối. Tì nữ thân cận của nàng nhân lúc đêm muộn, lén lút tìm đến tận nơi trao cho ta một phong thư ngắn gọn.
“Hứa cô nương, kiến tự như diện. Võ sĩ ch*t trận sa trường, văn thần ch*t vì can gián, máu nhuộm kim điện chính là quy túc, là cái đích viên mãn nhất của một bậc gián thần. Chuyện này vốn không liên can tới muội, xin chớ tự trách mình, cũng đừng vì ta mà sinh lòng bi thương.”
Bên ngoài trời lại đổ một trận mưa đêm âm u. Ta lập tức phân phó gia nhân đi thắng mã xa.
Tạ Hoài Dữ bước tới nắm lấy tay ta, hỏi: “Nàng định đi đâu?”
“Đến kinh thành! Đến để làm chứng cho Thái tử phi, tố cáo Thái tử cậy thế khinh người, cưỡng đoạt thần thê, đảo lộn luân thường đạo lý, bại hoại cương kỷ, sỉ nhục triều đình, làm tổn hại đến quốc bản! Một kẻ đức hèn tài mọn như hắn, không xứng đáng làm bậc nhân quân trị vì thiên hạ!”
Tạ Hoài Dữ siết chặt lấy bàn tay ta, ánh mắt kiên định: “Ta đi cùng nàng.”
Năm Thiên Khởi thứ bốn mươi hai, Thái tử chính thức bị phế truất ngôi vị Đông cung, lệnh giam cầm chung thân trong phủ đệ.
Danh tiếng “Tòng đạo bất tòng quân” (Theo đuổi chính đạo chứ không mù quáng phục tùng quân vương) của hiền hậu Thôi Uyển Thanh vang danh khắp thiên hạ. Thánh thượng buộc phải thuận theo công luận của bách tính, hạ chỉ chuẩn tấu cho hai người họ hòa ly.
Nơi đình Tống Khách ngoại ô kinh thành, ta và Thôi Uyển Thanh chắp tay bái biệt nhau. Nàng nay vận một bộ thanh y giản dị, cải trang thành một vị thư sinh, lập chí lên Đông Sơn bái bậc đại nho làm thầy để tiếp tục con đường học vấn. Còn ta ly gia đã lâu, dăm ba ngày tới cũng sẽ khởi hành trở về Dương Châu.
Gió xuân thổi lướt qua rặng liễu bên bờ đình. Kiếp này, hai người chúng ta rốt cuộc đều đã có thể đạt được sở nguyện, sống một đời tự tại vẹn toàn.
===
Ngoại truyện của Hạo nhi
01
Từ thuở biết nhìn nhận sự đời, ta đã tường tận một điều rằng mẫu phi của ta sống không hề vui vẻ. Nàng thường hay mài mực viết gia thư vào mỗi canh đêm, hết bức này đến bức khác, thế nhưng chưa từng một lần nhận được thư hồi âm từ quê nhà gửi tới.
Khi ấy ta thầm nghĩ, đợi đến ngày ta trưởng thành, được xuất cung kiến phủ, ta nhất định sẽ đón mẫu phi ra ngoài, đưa nàng trở về Giang Nam để bái kiến ngoại tổ phụ, ngoại tổ mẫu, trở về vùng sông nước quê hương vốn luôn xuất hiện trong những giấc chiêm bao của nàng.
Bởi vậy, ta cần mẫn, đêm ngày đèn sách. Thế nhưng đám tiên sinh trong Thượng Thư phòng lại chẳng chịu dạy cho ta bất cứ kinh thư thâm sâu nào, họ chỉ đưa tới những bản chữ mẫu của phụ hoàng, bắt ta phải đồ đi đồ lại hết lần này đến lần khác một cách vô vị.
Sau này, Tạ tiên sinh đến. Tiên sinh học vấn uyên thâm, từ kinh sử tử tập đến bách gia chư tử, thứ gì người cũng tận tình giảng giải cho ta nghe. Mỗi lần mẫu phi đến hoàng tử sở đón ta tan học, tiên sinh đều tiến lên phía trước hành lễ vấn an, ta đứng từ trong thư phòng nhìn ra, loáng thoáng nhìn thấy nơi đáy mắt của mẫu phi dường như có lệ quang ẩn hiện.
02
Ta ngày một khôn lớn, trưởng thành, các hoàng đệ khác đều đã bắt đầu được phụ hoàng phân phó đi lo liệu triều chính, duy chỉ có ta là vẫn bị giữ lại trong cung tiếp tục đọc sách qua ngày.
Mẫu phi từng đích thân tới cầu xin phụ hoàng, cầu xin đến mức bị người trách phạt, quở trách một trận lôi đình lôi vũ.
Kỳ thực lúc ấy ta rất muốn nói với mẫu phi rằng, ta vốn chẳng hề có chút dã tâm hay màng đến ngôi vị cửu ngũ chí tôn kia. Ta ở trong hoàng cung này đã quá lâu, chịu đủ mọi sự gò bó, tù túng rồi. Nếu có thể, ta chỉ nguyện làm một vị nhàn tản tông thất, chân đi khắp nam bắc đông tây, du ngoạn hồng trần nhân gian, như vậy đối với ta đã là viên mãn lắm rồi.
Tiên sinh khẽ vỗ vai ta, khuyên nhủ: “Hãy kiên nhẫn đợi thêm một thời gian nữa xem sao, ngày sau nhất định sẽ có cơ hội.”
03
Thế nhưng thời gian tàn nhẫn, nào có chịu đứng lại đợi chờ một ai.
Năm ấy có đoàn hoàng thương tiến kinh tiến cống sản vật, ta bèn bí mật nhờ cậy người đi nghe ngóng chút phong thanh về Hứa gia. Gã tiểu thái giám lúc trở về thần sắc vô cùng e dè, lắp ba lắp bắp bẩm báo rằng, bên ngoài đang rộ lên tin đồn ngoại tổ phụ và ngoại tổ mẫu của ta đã tạ thế từ tháng trước rồi. Chỉ là kỳ lạ ở chỗ, tuyệt nhiên không thấy Hứa gia tổ chức tang lễ rầm rộ, bởi vậy không rõ hư thực ra sao.
Ta mang theo nỗi nghi hoặc đến tìm tiên sinh để hỏi cho ra lẽ. Người trầm mặc hồi lâu, thở dài bảo ta rằng, đó chính là di nguyện trước lúc lâm chung của ngoại tổ mẫu. Người dặn dò gia quyến phải liệu lý tang sự một cách giản tiện nhất, không cần phát tang, không cần để tang, treo vải trắng, cốt là để tránh cho tin dữ truyền vào tai nương nương ở thâm cung làm nàng phải sinh lòng bi thương, tổn hại đến thân thể.
Ta lầm lũi bước về phòng mình, lặng lẽ ngồi im trong bóng tối suốt mấy canh giờ liền, thốt nhiên trong lòng hiểu rõ tất cả.
Thì ra, tất cả mọi người đều biết rõ một điều rằng, mẫu phi của ta một đời này vĩnh viễn chẳng thể bước chân ra khỏi bức tường thành kiên cố kia được nữa rồi. Nàng cả đời này đều phải chịu cảnh giam hãm nơi thâm cung trùng điệp.
Chính vì vậy, thay vì để nàng phải đối diện với sự thật tàn nhẫn, nếm trải nỗi đau sinh ly tử biệt, chi bằng cứ để nàng ôm giữ niềm tin rằng người thân của mình vẫn đang ở nơi giang nam xa xôi kia vui sống an yên.
Hóa ra từ trước đến nay, chỉ có một mình ta là ngu muội, vẫn luôn ôm giữ cái mộng tưởng hão huyền rằng sẽ có một ngày được đón nàng trở về chốn cũ quê hương.
Năm ấy, ta lâm trọng bệnh, sinh mệnh nguy kịch như ngọn đèn trước gió. Phụ hoàng hiếm khi thấy lòng trắc ẩn, người đích thân tới bên giường bệnh, ân cần hỏi ta xem có mong nguyện điều chi.
Trong cơn mê sảng, ta sực nhớ tới lời mẫu phi từng thủ thỉ năm nào, rằng nơi ngoại ô thành Dương Châu có một ngôi chùa cổ tên gọi Phổ Đà, vị Từ Ân phương trượng trụ trì nơi ấy là bậc đắc đạo cao tăng, có thần thông thông hiểu chuyện từ cổ chí kim.
Phụ hoàng bèn hạ chỉ triệu phương trượng vào cung. Ngày ngày, vị cao tăng ấy đều đến bên giường bệnh của ta gõ mõ tụng kinh, cầu phúc an lành, thế nhưng thân thể ta vẫn cứ một ngày một hao mòn, gầy rạc đi trông thấy.
Có một bận, khi trong phòng không còn người hầu kẻ hạ, ta chống tay gượng dậy, khẽ khàng hỏi người: “Phương trượng, trên thế gian này… liệu có thực sự tồn tại phép luân hồi chuyển thế, cải tử hoàn sinh chăng?”
“A Di Đà Phật.”
Vị đại sư mang ánh mắt từ bi, xót thương nhìn ta, đáp lời: “Điện hạ đời này thân phận quý hiển, phú quý tột cùng, can gì phải khổ sở cầu xin chuyện kiếp sau làm chi?”
“Ta… không phải cầu xin cho chính mình.”
Lúc bấy giờ, hơi tàn của ta đã gần như cạn kiệt, không còn đủ sức để thốt lên trọn vẹn một câu, chỉ có thể đứt quãng, thều thào bằng tất cả tấc lòng thành kính nhất:
“Đại sư… nếu Đức Phật từ bi có lòng lân mẫn đứa trẻ này, ta nguyện sau khi nhắm mắt xuôi tay sẽ chấp nhận linh hồn tiêu tán, không đọa vào luân hồi, không hưởng hương hỏa thờ phụng của nhân gian, vĩnh viễn không bước vào đạo chuyển sinh nữa… Ta duy chỉ cầu xin cho mẫu phi của ta có được một kiếp sau.”
Phương trượng khẽ thở dài, rủ rèm mi đáp: “Nếu như làm vậy, thì trong kiếp sau ấy… sẽ vĩnh viễn không còn sự hiện diện của Điện hạ nữa đâu.”
Giữa làn sương mù dày đặc che lối của cõi thâm u, ta loáng thoáng nhìn thấy tiên sinh cùng a mẫu đang thư thái ngồi thưởng trà nơi khoảng sân nhỏ thanh tịnh vùng Giang Nam. Đứa em trai và em gái ở kiếp sau của ta cũng đang được ngoại tổ mẫu và di mẫu bồng bế trên tay, ríu rít cười đùa, vui vầy dưới gối.
Trước khi thần trí hoàn toàn tiêu tán vào hư không, ta nghe thấy giọng nói của chính mình xuyên qua tầng tầng lớp lớp mây mù, khẽ khàng thốt lên:
“Như vậy… thì thật là tốt biết bao.”
(Toàn văn hoàn)