Ngày Xuân Tươi Đẹp - Chương 3
“Khi xưa ta đến Trung Châu, thay tên đổi họ, không ai biết đến thân phận cũ. Nhưng khi Chu Mộng Uyển đến, ta nhận ra nàng. Nàng thân cận với công chúa, mà công chúa ấy… vì ta còn sống mà oán giận, nàng không thể tái giá, không thể xuất hiện trước người ngoài. Nàng hận ta thấu xương… ta không dám đánh cược.”
…
Ánh mắt Tạ Thần An như thiêu như đốt, giọng trầm xuống:
“Nhuyễn Nhuyễn, không ai có thể khuấy động cuộc sống của chúng ta.”
Một tia lãnh ý lướt qua đáy mắt hắn, rồi tan biến.
Hắn lại trở về dịu dàng, khẽ đỡ ta nằm lại giường:
“Nàng thân thể yếu, đừng nghĩ ngợi nhiều. Có ta ở đây, cứ ngủ một giấc ngon.”
15
Từ sau trận náo loạn của Thẩm thị, Tạ Thần An lo ngại tiểu viện không còn an toàn, liền bố trí thêm hơn chục hộ vệ mang đao túc trực khắp nơi.
Một ngày nọ, Tiểu Đào đi chợ trở về, thần thần bí bí bước vào phòng.
“Tiểu thư, người đoán xem hôm nay ta thấy gì nào?”
“Gì thế?”
“Ta trông thấy Thẩm thị quỳ rạp trước Chu phủ, lôi lôi kéo kéo Chu Mộng Uyển.”
“Mà xem bộ dáng, hình như nhà họ Chu sắp hồi kinh. Có người thu xếp hành lý, chất xe ngựa, còn Chu Mộng Uyển thì trông chẳng mấy nể mặt Thẩm thị.”
Thẩm thị vốn thân cận với Chu Mộng Uyển, nghe nàng nói gì là lập tức dắt người đến làm loạn. Nhưng sau khi bị Tạ Thần An dứt lời đoạn tuyệt, bà ta hiểu rõ Chu Mộng Uyển chẳng thể vào được Tạ phủ.
“Hầu gia biết chuyện này chưa?”
Tiểu Đào lắc đầu:
“Cô gia vẫn ở công đường, chắc là chưa hay biết.”
Ta ừ một tiếng, nhón lấy miếng điểm tâm, thong thả nói:
“Vậy thì cứ xem như ta chưa từng nghe thấy.”
“Chúng ta không nói cho cô gia biết sao?”
Ta khẽ điểm nhẹ lên trán nàng:
“Cô gia thông tuệ hơn ta gấp bội, việc của hắn, để hắn tự định liệu. Ngươi chỉ cần lo cho bản thân là được.”
…
Mùa thu năm ấy, Trung Châu đổ trận mưa lớn đầu tiên.
Sấm sét cuồn cuộn, mưa giăng mù trời suốt hai ngày hai đêm không ngớt.
Đến ngày thứ ba, Tạ Thần An ôm ta ngồi nơi hành lang nhìn mưa. Hắn nắm lấy tay ta, dịu giọng nói:
“Hôm qua ta hỏi đại phu, người bảo thân thể nàng giờ đã tốt hơn nhiều so với trước kia.”
“Ta còn nhờ người mời danh y, đợi mưa tạnh sẽ đến phủ bắt mạch cho nàng.”
Ta tựa trong lòng hắn, uể oải đáp:
“Vâng, tùy chàng.”
…
Mưa vừa dứt vào ngày thứ tư, đến ngày thứ năm thì danh y tới.
Vừa vào cửa đã luống cuống chạy tới tìm Tạ Thần An, vẻ mặt đầy sợ hãi.
“Tạ hầu, xảy ra chuyện rồi!”
Danh y nói, ông đi đường tắt từ trấn bên sang cho kịp hẹn.
Do mẫn cảm với mùi m-áu, khi ngang qua khe núi, ông phát hiện mùi lạ, lần theo đó phát hiện vài cỗ xe ngựa lật nghiêng dưới ruộng nước.
Gần đây mưa lớn, dân không ra đồng, nên chẳng ai hay ngoài thành có án mạng.
Tạ Thần An nghe xong, sắc mặt nặng trĩu.
Hắn dặn danh y bắt mạch cho ta, rồi lập tức dẫn thị vệ lên đường.
Danh y nói:
“Phu nhân thể chất vẫn còn yếu, song nhờ điều dưỡng chu toàn nên không đáng lo.”
Ta chần chừ một lát, vẫn quyết định hỏi:
“Dám hỏi đại phu… ta sau này, liệu còn có thể mang thai chăng?”
Căn phòng bỗng im phăng phắc.
Danh y ngập ngừng, không biết nên mở lời thế nào.
Ta cười chua xót:
“Năm xưa ta từng uống thuốc tránh thai quá liều, lại bị thương nơi bụng dưới, thân thể bản thân ta rõ hơn ai hết. Đại phu không cần nặng lời, chỉ xin nói thẳng.”
Danh y nhìn ra cửa, khẽ thở dài:
“Phu nhân, xin thứ lỗi lão phu mạo muội. Lần này Hầu gia mời lão phu đến là muốn điều trị để phu nhân sớm có tin vui.”
“Nhưng… phu nhân dùng dược quá mạnh, hại đến căn nguyên, khí huyết ngưng trệ, hạ nguyên hư lạnh, cung huyết không đủ, đều là tướng trạng khó thụ thai.”
Tuy sớm lường trước, nhưng lòng ta vẫn nghẹn lại một khắc.
Quả thực, đời này không thể có con nữa.
“Nếu hầu gia hỏi đến, lão phu nên nói thế nào?”
Ta hồi thần, bảo Tiểu Đào dâng lễ tạ:
“Không cần che giấu. Cứ nói thật là được.”
….
Gia quyến của Chu Ngự sử đã ch-ết.
Họ vừa ra khỏi thành thì gặp mưa lớn, xa phu nóng ruột nên chọn đường tắt.
Đoàn xe nhiều, thoạt nhìn là nhà quyền quý, liền rơi vào tầm ngắm của thổ phỉ trong núi.
Dạo này Tạ Thần An ra tay nghiêm khắc, khiến bọn chúng trốn sâu trong rừng, sẵn mưa to, liền nhân cơ hội gây án.
Chúng cướp sạch xe ngựa, rồi ra tay sát hại cả đoàn.
Người duy nhất mất tích, chính là Chu Mộng Uyển.
“Nàng ấy… bị bắt đi rồi sao?”
Tạ Thần An vừa giúp ta khoác áo, vừa nhàn nhạt đáp:
“E là vậy. Quân ta đã tiến vào núi, thật giả thì lát nữa rõ.”
Lại nhẹ giọng nói tiếp:
“Song, với người tiết nghĩa như Chu cô nương, cho dù chưa ch-ết, cũng sợ là chẳng sống nổi.”
Ta: “…”
Quả như lời hắn, Chu Mộng Uyển sau khi được quan binh cứu, liền đâm thẳng vào lưỡi đao.
Đám sơn tặc bị bắt còn cảm thán: nàng ch-ết thật kiên cường.
…
Tạ Thần An cùng quan trấn bên cạnh liền gửi tấu về triều đình.
Chu Mộng Uyển tuy không đáng nhắc tới, nhưng cái ch-ết của Chu Ngự sử phải có lời giải thích.
Bọn họ bàn bạc, gán cho Chu đại nhân một cái danh tốt đẹp: trên đường cứu trợ dân vùng lũ, gặp lở đất bỏ mạng.
Triều đình tiếp tấu, an ủi qua loa, truy phong danh hiệu cho Chu gia, chuyện liền chìm xuồng.
….
Thân thể ta đã hồi phục ít nhiều, liền tới thăm song thân.
Từ khi đến Trung Châu, cha mẹ ta luôn ẩn danh.
Phụ thân cất đi khí khái năm xưa, ngồi nơi ngã ba đánh cờ tán gẫu cùng hàng xóm.
Từ xa nhìn lại, chẳng khác gì lão bá bình thường.
Mẫu thân cũng mặc thường phục, ngày ngày theo các nữ nhân trong xóm dệt vải vá may.
Tuy không dư giả, nhưng thanh bình ấm áp.
Tiểu Đào vui mừng hô to “lão gia, phu nhân”, cả nhà ríu rít vào cửa.
Hàng xóm thấy ta tới, cũng cung kính gọi một tiếng “Hầu phu nhân” rồi ai nấy trở về làm việc của mình.
Ta thực lòng yêu mến mảnh đất Trung Châu này.
Tạ Thần An chưa từng vì thân phận mà coi thường dân đen, lại càng không khoa trương xa hoa.
Hắn giống một đại gia nhân hậu, đi chợ chào hỏi, thấy ai có việc vui liền đến chúc mừng.
Dân ở đây cũng thật thà chất phác, kính trọng hắn từ tâm, không như dân kinh luôn quỳ mọp nịnh bợ, hèn mọn mất thể diện.
…
“Nhuyễn Nhuyễn, hiện giờ con và Thần An thế nào rồi?”
Mấy năm qua, hắn vẫn phái đại phu đến bắt mạch cho phụ thân ta, nay ông ấy khí sắc hồng hào, trông còn khỏe hơn thời còn ở kinh.
Ta khẽ cúi đầu, giọng nhẹ như mây trôi:
“Hắn đối với con rất tốt… Nhưng… cũng chỉ đến đây thôi.”
Mẫu thân nước mắt rưng rưng, siết chặt tay ta:
“Vì… không thể có hài tử ư?”
Ta chưa từng nói ra rằng, trước khi tuyệt thực nơi Bắc Địch, ta đã từng mang thai.
Là… cốt nhục của Dạ Khánh Túc.
Ta uống thuốc để trục thai, vì áy náy mà tuyệt thực, thân thể tàn tạ, bị lôi ra trận doanh.
Từ đó, nguyệt sự của ta trở nên bất thường.
…
“Nếu đã vô duyên thì chớ miễn cưỡng. Nhuyễn Nhuyễn, nếu lòng con thấy khổ, chúng ta đổi nơi khác mà sống.”
Lời mẫu thân khiến lòng ta khẽ run.
Gần đây, ta cũng đã suy nghĩ đến điều này.
Tạ Thần An là bậc nam tử có trách nhiệm, hắn sẽ không cưới ai khác vì ta.
Nhưng rồi nhiều năm sau thì sao? Khi ân tình nhạt phai, khi người khác con đàn cháu đống — hắn có thật sẽ không hối tiếc?
Lẽ nào ta sẽ sống bằng sự thương hại của hắn, gánh lấy tội danh cướp đi cốt nhục đời hắn?
Ta… không dám.
“Dăm hôm nữa, thế tử đất Thục thành hôn, Hầu gia sẽ tới đưa hỷ lễ. Đó… chính là cơ hội tốt nhất để chúng ta rời đi.”
19
Trung Châu là đất của Tạ Thần An, cho dù ta có quyết tâm rời đi, muốn thực hiện cũng chẳng dễ dàng. Thế nên, ta đến gặp Thẩm thị.
Đã nhiều ngày không gặp, bà ấy gầy rộc hẳn đi, thần sắc chẳng còn chút sinh khí năm nào, chỉ ngồi lặng lẽ trong viện, dáng vẻ vô cùng tiêu điều. Vừa thấy ta, bà không còn gây gắt như trước, nhưng sắc mặt vẫn chẳng lấy gì làm dễ coi.
“Ta không phản đối việc các ngươi thành thân, ngươi không cần đến đây thị uy. Ngươi thắng rồi.”
Ta nhấc ấm rót cho bà một chén trà, đặt bên tay rồi ngồi xuống ghế đá bên cạnh.
“Tạ Thần An từng nói với ta rằng, thuở thiếu thời của phu nhân chẳng được như ý. Lão Hầu gia quanh năm chinh chiến sa trường, lại là người đa tình, mang về biết bao tiểu thiếp từ nơi chiến địa.”
Nhắc lại chuyện cũ, sắc mặt Thẩm thị thoáng trầm xuống, giọng cũng cao hơn một chút:
“Ngươi nhắc mấy chuyện ấy làm gì? Muốn khoe khoang rằng Tạ Thần An chỉ một lòng với ngươi sao? Mạnh Nhược Khê, chẳng qua ngươi may mắn sống trong thời thái bình, có trượng phu ở bên. Nếu mấy năm không gặp hắn, ngươi cũng sẽ hiểu rõ, tình cảm gì đó, nào bằng tước vị thực dụng?”
Dứt lời, dường như bà lại nghĩ đến điều gì, bèn im lặng quay mặt sang chỗ khác.
“Phu nhân giận ta, ta hiểu. Năm xưa, lão Hầu gia thiên vị mấy đứa con dòng thứ theo ông vào trận, chẳng hề để tâm đến phu nhân và Thần An. Nếu chẳng phải do lễ pháp tổ tông, có lẽ ngôi vị Hầu gia đã rơi vào tay bọn họ. Phu nhân cảm thấy, có thể giữ được tiền đồ cho Thần An như ngày nay, một phần nhờ thân phận trưởng tử, một phần là nhờ vào gia thế của mẫu thân – chính là phu nhân.”
Ta dừng một chút, thấy Thẩm thị không phản bác, bèn nói tiếp.
“Cho nên phu nhân vẫn luôn mong hắn lấy một người môn đăng hộ đối, sinh một đứa con trai khỏe mạnh thông minh để nối dõi tước vị. Ta hiểu.”
“Ta biết phu nhân ghét bỏ ta. Dù ta cũng là nữ nhân, ta chưa từng mong phu nhân sẽ cảm thông với ta. Nhưng ta cũng không vì vậy mà chán ghét chính mình.”
“Việc bị đưa đến Bắc Địch, ta chẳng thể làm chủ. Khi bị kẻ mạnh gấp mấy lần làm nhục, ta cũng chẳng thể chống cự. Nhưng điều ấy không có nghĩa là ta đáng phải chịu.”
“Năm ấy, cùng bị đưa đi còn có trăm cung nữ khác. Phu nhân có biết họ trải qua những gì không?”
Ánh mắt Thẩm thị thoáng động, lộ rõ chút bối rối và ngỡ ngàng.
“Họ bị bày ra nơi doanh trại, bị đám man tộc Bắc Địch to lớn tàn bạo làm nhục ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Trên bãi cỏ là m-áu vung vãi. Có người ch-ết mà mắt vẫn trợn trừng. Kẻ còn sống cũng chẳng dám mừng vì sống sót. Họ bị bắt bò như súc vật trong doanh, Bắc Địch nổi hứng thì cưỡi lên, ngoan ngoãn thì đỡ, chống cự thì bị hành hạ đến ch-ết.”
“Người dân ẩn mình phía sau luôn hô giữ tiết vì nước, nhưng nếu họ thật sự coi trọng tiết hạnh như thế, cớ sao lại núp sau nữ nhi, để chúng ta gánh thay phần nhục?”
“Chúng ta sai ở đâu? Cha ta là Tướng quân, bao năm vì nước xông pha nơi chiến địa. Vậy mà kết cục, vì muốn giữ thể diện cho chính mình, vì muốn bảo toàn công chúa, Hoàng thượng cấu kết bọn triều thần hèn yếu, đưa con cháu công thần ra làm vật tế. Cha ta bệnh tật vẫn phải xuất chiến, rốt cuộc vẫn diệt Bắc Địch.”
“Ta hỏi, nếu đám đại thần có thể giữ tiết như họ đòi hỏi ở nữ tử, thì sao lại rơi vào cảnh nước mất nhà tan?”
Thẩm thị môi run bần bật, chẳng biết nên nói gì. Ta không muốn dồn bà đến đường cùng. Ở thời đại này, nữ tử như bà vốn đã bị trói chặt trong khuôn phép, chưa từng trải qua, làm sao mà thấu?
“Ta muốn nói, đúng là ta không thể có con. Năm đó để phòng mang thai, ta uống liền mấy thang thuốc tránh thai cực mạnh. Sau lại bị thương, thân thể đã hỏng. Đời này… không còn hy vọng.”
Thẩm thị ánh mắt thoáng hiện vẻ kinh hãi, ngón tay nắm chặt vạt áo.
“Nhưng đó là lựa chọn của ta. Ta không hối hận. Và lựa chọn ấy, chẳng can hệ gì đến Tạ Thần An. Ta cũng không muốn hắn gánh thay ta trách nhiệm này.”
“Nên ta cầu xin phu nhân, giúp ta rời khỏi Trung Châu.”
20
Mãi đến khi quay lại ngồi trong viện, lòng ta vẫn chưa yên ổn.
Thẩm thị sau khi nghe tin ta muốn rời đi, bèn kích động đứng bật dậy, hỏi ta có thật sự định rời khỏi nơi này hay không. Khi nghe được câu trả lời, thần sắc bà liền biến đổi, nửa phần xúc động, nửa phần hổ thẹn.
“Ta… ta biết chuyện đó chẳng phải lỗi của ngươi. Họa nước đâu nên để nữ nhi gánh vác. Ngươi có thể sống sót trở về, hẳn tinh thần đã chịu nhiều thương tổn người thường không thể gánh nổi… Ta… ta rất kính phục ngươi. Nhưng Mạnh Nhược Khê, xin hãy hiểu cho ta, ta… vẫn là một người mẹ…”
Thẩm thị cuối cùng đã gật đầu. Bà nói sẽ giúp ta rời khỏi Trung Châu khi Tạ Thần An xuất chinh, còn sẽ an bài thuyền để ta rời đi an toàn.
Ta cũng đem toàn bộ bạc và tiệm cầm đồ mà Tạ Thần An từng đưa, hoàn trả lại cho Thẩm thị.
Ta không muốn trở thành con chim bị nuôi trong lồng son của Tạ Thần An, chỉ biết sống nhờ hơi thở hắn mà tồn tại. Dẫu là nữ tử, ta cũng có thể sống một đời đường hoàng, không vì thế đạo bất công mà quỳ gối cam chịu, ta muốn tự mình tranh lấy con đường của bản thân.
21
Trước ngày lên đường đến Thục địa, Tạ Thần An trở nên đặc biệt quyến luyến.
Ở nha môn mới ngồi được đôi chút, hắn đã chạy về phủ, nắn má ta, nắm tay ta, ánh mắt đầy vẻ lưu luyến chẳng rời.
“Nhược Khê, ta lần này đi hai tháng liền, nàng có nhớ ta không?”
Ta mỉm cười gật đầu, hắn lập tức ôm ta thật chặt. “Nếu không vì thân thể nàng yếu, ta thật muốn mang nàng theo. Hai tháng đó, kể từ khi chúng ta thành thân tới nay, chưa từng xa nhau lâu đến vậy. Ta nhất định sẽ tương tư nàng đến không ngủ nổi.”
Tiểu Đào tính tình đơn thuần, sợ nàng để lộ điều gì khiến Tạ Thần An nghi ngờ nên ta không dám nói với nàng chuyện rời đi. Nàng mỗi ngày dọn cơm bày bàn đều tươi cười, còn trấn an Tạ Thần An:
“Công tử đối với tiểu thư nhà ta thật tốt. Công tử cứ yên tâm, ta nhất định chăm sóc tiểu thư thật chu đáo, đợi công tử trở về, sẽ hoàn trả một tiểu thư mập mạp đáng yêu.”
22
Chớp mắt đã đến ngày Tạ Thần An xuất chinh rời thành.
Trước khi lên đường, hắn căn dặn đám thị vệ trong phủ không được để bất kỳ ai đến gây rối, ngay cả Thẩm thị tới cũng không cho vào. Hắn lại vòng ra hậu viện dặn dò đầu bếp và gia nhân từng điều: phải nấu món tinh tế, thuốc bổ phải uống mỗi ngày, bữa ăn phải phong phú, trái cây thì giảm bớt.
Tất bật cả một canh giờ, hắn mới bịn rịn ôm chầm lấy ta.
“Nhược Khê, đợi ta trở về, chúng ta thành thân nhé. Sau này cùng nhau sống những ngày yên vui. Khi ta trở lại, ta còn có điều bất ngờ muốn dành cho nàng.”
Ta ngẩng đầu, tay nhẹ nhàng chạm lên gương mặt cứng cỏi của hắn, thì thầm “Được, ta chờ chàng trở về.”
23
Ngày thứ năm sau khi Tạ Thần An rời thành, ta cùng phụ mẫu và Tiểu Đào bước lên con thuyền mà Thẩm thị đã âm thầm chuẩn bị.
Thẩm thị đứng nơi bờ sông tiễn ta, lần đầu lộ ra nụ cười chân thành nhất trong ngần ấy năm:
“Chuyện cũ như gió thoảng ngày qua. Mạnh Nhược Khê, ngươi về sau đừng làm cánh diều bị người đời giật dây điều khiển nữa… Hãy trở thành chim trời, tùy tâm mà sống, dẫu ở nơi đâu cũng tự do tung cánh.”
Ta chưa từng hận bà. Bà chẳng qua chỉ là một nữ nhân bị trói buộc bởi lễ giáo, bởi danh phận mà thôi. Nếu thật được lựa chọn lại một lần nữa, e rằng bà cũng muốn được làm chim trời tự tại ấy.
24
Ta dẫn cha mẹ rẽ đường, đến một trấn nhỏ tên là Lâm Thành.
Dân cư nơi này sống nhờ vào nông canh, quần áo vải thô, cuộc sống mộc mạc, sáng làm chiều nghỉ, an nhàn bình dị.
Cha mẹ ta rất nhanh đã hòa nhập với dân làng. Sau khi mua được một căn nhà nhỏ, trưởng thôn chia cho nhà ta ba mẫu ruộng.
Ban ngày, ta cùng dân làng lao động trên đồng ruộng, tối đến lại bày hai chiếc bàn trước nhà, dạy bọn trẻ học chữ, đọc sách. Cũng có nam nữ thanh niên xách ghế ngồi bên, cùng nghe ta giảng.
Ta giảng cho họ rằng: nữ tử học chữ hiểu đạo, chẳng khác nam nhi; ta cũng dạy cách tu dưỡng thân tâm, bảo họ nên trân trọng từng bữa ăn giấc ngủ.
Vì nơi này chẳng có gì vui chơi, ta dạy họ trò ném hồ, tính toán, còn kể chuyện tiết khí, mùa vụ để họ dễ canh tác.
Bà con cảm kích, thường đem gạo rau đến biếu. Ngày tháng cứ thế trôi qua, hết năm này sang năm khác.
Đôi lúc, ta vẫn nhớ đến Tạ Thần An, nhớ đến khoảng thời gian vui vẻ của hai ta. Cũng dần dần, ta có thể bình thản mà kể lại những gì đã trải qua nơi Bắc Địch.
Chuyện từng khiến ta ám ảnh ngay cả trong mộng, giờ đây ta đã có thể nhẹ nhàng kể lại cùng Tiểu Đào.
Ta nghĩ Tạ Thần An hẳn đã hiểu lòng ta, hắn không ngốc, thừa biết Thẩm thị không thể ra lệnh cho đám thị vệ kia. Là ta sai Tiểu Đào hạ mê dược, mới có thể thuận lợi rời thành.
Thẩm thị đã chọn giúp ta, ta cũng chẳng muốn khiến bà và Tạ Thần An xa cách. Dù sao họ cũng là mẫu tử, còn phải sống tiếp. Ta không mong giữa họ có khúc mắc.
Thế gian này, nhiều chuyện chỉ khi đánh mất rồi mới biết trân quý. Ta không muốn Tạ Thần An một mai hối hận.
25
Lại mấy năm trôi qua, nước Đại Ung bỗng nổi loạn.
Nguyên do bởi Hoàng đế tuổi già sức yếu, thân thể chẳng bằng thuở trước, dần sinh lòng mê tín, tin vào tà thuật trường sinh, bèn cưỡng ép ba mươi vạn dân phu xây dựng “Trường Sinh Đài”.
Trường Sinh Đài kia vô cùng tà mị, dùng xương cốt người ch-ết chất thành nền, ý muốn trấn hồn, cầu phúc vĩnh sinh cho hoàng quyền đời đời bất diệt.
Sau khi đài dựng xong, để luyện đan trường sinh, hôn quân lại nghe lời gian phương, dùng não tuỷ đồng nam đồng nữ làm dược dẫn, khiến trong thành mười nhà thì chín nhà mất con.
Ác nghiệt hơn, sau khi dùng đan, thân thể hôn quân quả nhiên hồi phục, tên phương sĩ lại hiến kế: muốn trường sinh, cần lấy huyết xử nữ phối cùng hoan lạc mới kéo dài tuổi thọ.
Hôn quân chẳng chút ngần ngại, giao toàn bộ triều chính cho gian tướng, mặc hắn lập ra “thuế xử nữ”, nửa tháng một lần, bắt các chư hầu tiến cống mười thiếu nữ vào cung mua vui.
Đến xuân phân năm ngoái, có kẻ can ngăn rằng thuật pháp kia trái nghịch thiên mệnh, gian tướng liền lôi ba vị thế tử của các chư hầu ra giữa triều mà l-ột da, làm lồng đèn treo trên cổng thành.
Cùng năm ấy, vào tiết Đông Chí, hôn quân lại nổi hứng, ra lệnh chôn sống ba vạn lão binh tàn tật đang an trí trong quân, chỉ để bớt phần quân phí mà dựng Đại Thánh Hành Cung.
Sự tàn bạo của đế vương rốt cuộc cũng dẫn đến họa lớn: kỵ binh Nhung tộc tràn vào biên cảnh. Ấy vậy mà hắn vẫn mở yến tiệc trong cung, gọi là “Vong Quốc Yến”, bắt bá quan cùng thê nữ múa hát tiêu khiển cho mình.
Tội ác tày trời, cuối cùng cũng khiến các chư hầu nhẫn nhịn bao năm phải tỉnh ngộ: kẻ này không trừ, trời đất chẳng dung!
Người đầu tiên khởi binh là Chư hầu đất Thục. Thục địa núi hiểm vật phong, ông ta xuất lương thảo, giáp trụ, hô vang lời hiệu triệu “Thanh quân trắc”.
Trung Châu địa thế trọng yếu, Tạ Thần An nhiều năm nghiêm khắc luyện binh, nghe đất Thục dấy quân, liền đem mười vạn tinh binh Trung Châu theo thẳng đường tiến kinh.
Trên đường đi, các chư hầu lần lượt hưởng ứng, khi đến kinh thành, quân Nhung tộc đã phá tan hoàng cung, Trường Sinh Đài bị đại pháo bắn sập, thi thể ngổn ngang khắp chốn.
Hôn quân bị treo nơi cổng thành, da thịt teo tóp chỉ còn bộ xương khô.
Hậu phi công chúa của hắn đều bị Nhung tộc bắt làm đồ chơi.
Nhung tộc thấy quân chư hầu vây khốn, liền đề nghị lấy tính mạng hôn quân để đổi lấy mười năm hòa bình.
Khi ấy, hoàng thất từng người khóc lóc cầu xin Thục hầu mở đường, họ muốn sống, họ còn muốn hưởng vinh hoa phú quý.
Song Thục hầu chẳng đáp, Tạ Thần An cũng lặng thinh. Nhưng họ chẳng dám động thủ gi-ết hôn quân, sợ mang tiếng gi-ết vua phản nghịch.
Hai bên giằng co, cục diện bế tắc.
Mãi đến khi một người thợ săn mất con vì bị bắt luyện đan, bắn ra mũi tên định thiên.
Hắn là tay thiện xạ, liên phát mười tiễn, mũi nào trúng mục tiêu, cũng là người đầu tiên hô vang: “Trảm hôn quân, chấn chính triều cương!”
Hôn quân cùng vợ con đều bỏ mạng dưới tên, Thục hầu mất gông xiềng, toàn quân đánh thẳng, chỉ ba ngày tiêu diệt quân Nhung, đến ngày thứ tư, dưới lời thỉnh cầu của các chư hầu, đăng cơ làm đế, đổi quốc hiệu thành Thuận Thiên.
Tân đế vừa đăng vị, cùng Văn Uyên hầu mật đàm suốt đêm, ban ra đạo chiếu đầu tiên: phế bỏ hết thảy luật lệ hà khắc thời tiền triều, diệt tận gốc tàn độc làm hại dân sinh.
Để xoa dịu vết thương chiến loạn, tân đế hạ chiếu miễn thuế ba năm toàn quốc, lập “Dưỡng Tế Viện” ở các châu phủ để thu dưỡng thương binh tàn tật, lại dựng “Đồng Trụ Tội Kỷ” trước điện, khắc tội ác tiền triều để đời đời răn dạy.
Trong ấy, có một điều khiến lòng vua đau đớn khôn nguôi: “Lấy tiết phụ cầu hòa, đổi chút bình yên”.
Tân đế bèn đích thân ban chiếu: mọi dân nước Đại Ung, dù nam hay nữ, già hay trẻ, đều là cốt nhục của quốc gia. Hôm nay hôn quân lấy nữ tử cầu hòa, mai sau tất sẽ cắt đất; nếu cắt đất không được, tất là mất nước!
Văn Uyên hầu cũng lập quân luật: từ nay về sau, mỗi khi có chiến sự, nữ tử và người già phải được sơ tán trước, trai tráng quyết tử bảo vệ hậu phương. Thà cho thần châu hóa tro bụi, quyết không để vó ngựa man di giày đạp hồng trang!
Chẳng đầy nửa năm, dân tị nạn trở về cày cấy, thương nhân ngựa xe lại tấp nập, vùng đất từng nhuộm m-áu kia, lại thấy liễu rủ lả lướt bên đường.
Những bách tính từng mất con dưới ách thống trị tàn bạo của hôn quân, cuối cùng cũng tin rằng —
Loạn thế, thật sự đã qua rồi.
26
“Mạnh tiên sinh” Thiếu nữ nhỏ giọng nói, “Phụ thân ta từng nói, nếu nhà Trương đồ phu có năm xâu tiền, thì sẽ gả ta cho hắn. Nhưng ta… ta không muốn gả.”
Ta nhẹ nhàng kéo nàng ngồi xuống bên mình, khẽ cười:
“Chọn phu quân, trọng đức chẳng trọng tài. Nếu quả thật ngươi không muốn gả, ta có thể đi thuyết phục phụ thân ngươi.”
Tiểu cô nương vẫn nhăn đôi mày thanh tú:
“Nhưng phụ thân ta đã già, người luôn lo rằng sau này ta không ai chăm sóc, sợ ta thiếu ăn thiếu mặc… chỉ e người không chịu đồng ý.”
Ta vuốt tóc nàng, ôn hòa đáp:
“Vậy thì theo ta đến thư viện. Bạc tuy chẳng dư dả, nhưng chí ít không đến nỗi chịu đói.”
“Thật có thể sao?”
“Chỉ cần ngươi nguyện ý, tự nhiên là được.”
Ta vừa dứt lời, sau lưng bỗng vang lên một giọng nam quen thuộc, trầm thấp vang vọng từ xa.
Ta quay đầu nhìn lại, chỉ thấy một nam tử đứng dưới ánh dương, hai tay chắp sau lưng, ánh mắt đong đầy ý cười, chẳng đầy mười bước đã ở ngay sau ta.
Mắt ta tức khắc cay xè, nước mắt như ngấn tràn bờ mi, nghẹn ngào chẳng thể thốt nên lời.
Tạ Thần An chậm rãi tiến lại, bên cạnh còn có một tiểu đồng chừng sáu bảy tuổi, đôi mắt long lanh chớp động, kéo tay áo hắn hỏi:
“Cha ơi, vị kia là ai thế?”
Tạ Thần An bật cười, nụ cười dịu dàng hơn cả đêm động phòng năm xưa:
“Đó là mẫu thân con đấy. Mau gọi một tiếng ‘mẫu thân’, hỏi nàng xem… khi nào chịu cùng chúng ta hồi phủ?”
[Phiên Ngoại]
Tạ Thần An thuở nhỏ chẳng có tuổi thơ êm đềm.
Phụ thân hắn là một đại anh hùng, nhưng quanh năm bôn ba chốn biên cương, hiếm khi về phủ.
Mẫu thân hắn vốn là danh môn khuê tú, nhưng bao năm bị lạnh nhạt cô đơn, dần dần thần trí điên đảo.
Đặc biệt là sau khi hai vị di nương mang theo hai đệ đệ chỉ nhỏ hơn hắn vài tuổi dọn vào, dây đàn căng cứng trong lòng mẫu thân hắn cuối cùng cũng đứt phựt.
Vì tranh đoạt tước vị, mẫu thân hắn cố gắng không ngơi nghỉ, làm đủ trò đấu đá trong nội trạch, tính tình ngày càng cay nghiệt. Hễ bà đi qua đâu trong phủ, nơi ấy liền vắng bóng người sống.
Ban đầu hai vị di nương còn phản kháng, về sau bất lực đành dọn ra biệt viện. Không chỉ các nàng, mà ngay cả phụ thân hắn cũng theo ra đó ở luôn.
Thẩm thị tuy giành được tước vị, nhưng lại hoàn toàn đánh mất tâm của lão hầu gia.
Đến khi lão hầu gia qua đời cũng chẳng cho bà đến gần, thậm chí còn để lại di ngôn: “Sau khi ch-ết, phải hợp táng cùng hai vị di nương.”
Nhưng Thẩm thị chẳng bận tâm điều ấy. Ít nhất, theo cái nhìn của Tạ Thần An, bà thật sự chẳng để tâm.
Bà thường dạy hắn: “Hắn sống hay ch-ết chẳng quan trọng, điều quan trọng là con phải còn sống để kế thừa tước vị.”
Hiểu rõ nỗi khổ trong lòng mẫu thân, Tạ Thần An luôn gật đầu vâng dạ, dù bà cách vài hôm lại đến biệt viện quấy rầy cũng mắt nhắm mắt mở cho qua.
Chỉ là chẳng ngờ càng ngày bà càng thích gây chuyện. Dường như trở thành thói quen khó bỏ.
Con người ta thành thân, bà đến quấy. Sinh con, bà cũng đến quấy. Nạp thiếp, bà không tha. Di nương bệnh nhẹ, bà vẫn đến… Tóm lại, việc gì cũng có phần Thẩm thị làm loạn một hồi.
Tạ Thần An chưa từng oán trách hai vị di nương hay huynh đệ cùng cha khác mẹ. Trừ việc họ đoạt mất phụ thân hắn, họ chưa từng gây hại cho hắn. Ngược lại, mẫu thân hắn ngày ngày gây phiền nhiễu khiến họ chẳng thể sống yên ổn.
Hắn thấy có lỗi, bèn thu xếp cho hai đệ đệ đi theo quân doanh làm việc. Hai đệ đệ cũng biết ơn, luôn tận tâm tận lực.
Thế nhưng Thẩm thị chẳng tin, nói bọn họ là lang sói đội lốt người, sớm muộn gì cũng trở mặt phản trắc.
Cũng bởi thế, bà lại càng gây loạn.
Thẩm thị ánh mắt cao ngạo, trong thiên hạ chẳng ai lọt vào mắt bà, luôn cho rằng chẳng có ai xứng với Tạ Thần An.
Bao gồm cả Chu Mộng Uyển – chí ít là trước khi phụ thân nàng làm ngự sử.
Dẫu vậy, năm xưa Chu Mộng Uyển tính cách hào sảng, hoạt bát như nam nhi.
Tạ Thần An vốn không thích nữ tử yếu đuối, gió thổi là ngã. Trong mắt hắn, người như thế chẳng dễ nuôi sống.
Bởi vậy, có lúc hắn cũng cảm thấy Chu Mộng Uyển không tệ.
Hai người vốn là bằng hữu thuở nhỏ, hắn lại là người chẳng câu nệ tiểu tiết, đối với nàng thân thiết như huynh đệ, từng nghĩ rằng nếu hai người thành thân, đêm động phòng có thể kết bái huynh đệ luôn một thể, cùng nâng chén rượu mà cười vang.
Cho nên, khi Chu Mộng Uyển theo phụ thân tiến kinh, Tạ Thần An hết sức luyến tiếc.
Hắn viết một phong thư dài cả ngàn chữ, như thể tiễn biệt người tri kỷ lâu năm, chỉ hận không thể ôm nhau khóc một trận.
Thế rồi chẳng bao lâu, hắn gặp được Mạnh Nhược Khê – nàng theo phụ mẫu đến Trung Châu.
Tạ Thần An nhớ rõ ngày ấy, nàng e dè núp sau cha mẹ, mặc váy lụa xanh lam, dáng người mảnh mai, da trắng nhợt, y hệt một con thiên nga yếu ớt nhưng kiêu hãnh, đẹp đến mức khiến tử thần cũng không dám chạm vào.
Hắn nghĩ, chớ nói là một trận gió, nàng đứng lâu thêm chút nữa e cũng ngã.
Nàng không nên đứng đó – nàng nên nằm trong lòng hắn.
Hắn thân hình cường tráng từ nhỏ, dẫu cuồng phong thổi qua cũng chẳng lay chuyển nổi. Trong lòng hắn, nàng mới thật sự an toàn.
Nghĩ thế, hắn liền làm thế.
Tạ Thần An tuy đọc nhiều sách, nhưng quanh năm nơi doanh trại, bản tính thô lỗ. Hôm đó, hắn lập tức đến phủ nàng, thẳng thắn thưa với phụ thân nàng rằng muốn cưới nàng về làm thê tử.
Tuy đột ngột, nhưng phụ thân nàng lại một lời đồng ý.
Tạ Thần An thầm khen: quả nhiên là nhạc phụ của ta – thật dứt khoát.
Chỉ tiếc nhạc phụ hào sảng, tiểu cô nương lại chẳng dễ gật đầu.
Nàng chớp đôi mắt mong manh, giọng mềm mại tựa nước xuân, khiến ý chí sắt đá và con tim của hắn như tan chảy:
“Huynh thật sự muốn cưới ta ư?”
“Có thể ta không tốt, có thể quá khứ đầy tì vết, có thể huynh sẽ không chấp nhận được… Huynh thật không hối hận sao?”
Tạ Thần An khẽ cười: “Nàng yên tâm, ta có thể.”
Hắn thầm nghĩ: “Ta chính là yêu dáng vẻ nhu nhược, ngây thơ của nàng. Có lỗi cũng là người khác sai. Nàng như tiên nữ hạ phàm, sao có thể có sai lầm?”
Kể cả người khác nói nàng sai, nàng tự nhận sai, hắn cũng sẽ bênh vực tới cùng.
Tiểu cô nương thấy hắn kiên quyết, liền e thẹn mà gật đầu.
Đêm tân hôn, trên khăn cưới không có điểm chu sa. Đôi mắt nàng đỏ như m-áu sắp chảy.
Tạ Thần An vờ như chẳng thấy, ôm nàng vào lòng, để nàng ngủ yên trong vòng tay hắn suốt đêm.
Sáng hôm sau, hắn bước ra, lấy chính m-áu mình điểm lên khăn cưới.
Hắn nghĩ, thứ nàng không có, ta sẽ bù đắp. Đó mới là phu thê thật sự.
Không giống phụ mẫu ta ngày xưa.
Tạ Thần An thật tâm yêu nàng – yêu một Mạnh Nhược Khê mềm mại mà cẩn trọng, dù biết nàng phiền phức… Nhưng chỉ nàng, mới đáng để hắn ôm trọn cả đời.
Mạnh Nhược Khê bề ngoài mềm mại, thực chất lại tâm phòng thủ nặng nề. Nàng nhìn Tạ Thần An, ánh mắt kia tựa hồ chẳng mang chút cảm tình.
Tạ Thần An vẫn thường tự nhủ, nàng còn nhỏ, mới vừa mười sáu tuổi thôi, rồi sẽ có một ngày… trong mắt nàng sẽ chỉ còn hắn.
Hắn yêu nàng dè dặt như nâng trứng mỏng, chẳng dám nói lời đường mật sỗ sàng, cũng chẳng dám bộc lộ quá rõ ràng chân ý trong lòng, chỉ sợ làm nàng kinh sợ, khiến tiểu cô nương ấy rụt lại như con thỏ nhỏ.
Từ sau khi thành thân, mẫu thân hắn lại chuyển chiến địa về phủ hầu, tái xuất giang hồ.
Bà không ưa Mạnh Nhược Khê, xem thường xuất thân sa sút của nàng, khinh thường cái dáng vẻ yếu ớt chỉ một cơn gió cũng có thể cuốn bay, lại càng chướng mắt cái gương mặt ngày nào cũng lạnh nhạt vô cảm kia, càng chẳng vừa lòng chuyện nàng mãi chẳng mang thai.
Thẩm thị bắt đầu ngấm ngầm gây khó dễ cho nàng, mà Mạnh Nhược Khê lại chẳng nói một lời với Tạ Thần An.
Hắn đoán nàng nghĩ hắn sẽ không tin. Nhưng kỳ thực, trong thiên hạ này, chẳng ai hiểu rõ vị mẫu thân thích gây sự của hắn hơn chính bản thân hắn.
Hắn thẳng thắn tìm đến Thẩm thị:
“Mẫu thân đừng ức hiếp Nhược Khê như vậy. Là con muốn cưới nàng, nếu người không vừa lòng, cứ nhắm vào con mà trút giận.”
Thẩm thị nước mắt ngắn dài, cào tường kêu khóc, thậm chí còn doạ th-ắt c-ổ. Tạ Thần An thì coi như không thấy.
Hắn dám chắc, chỉ cần cái tước vị vẫn còn treo trên đầu hắn, thì sợi dây thừng có treo cả đời trên xà nhà cũng không đứt nổi.
Tiểu thê tử thân thể yếu ớt, Tạ Thần An mỗi khi xong việc quan trường liền chạy khắp nơi tìm danh y. Nhạc phụ cũng mang bệnh trong người, hắn cũng phải lo lắng.
Thầy thuốc hắn mời về nói, nhạc phụ đầy những vết thương do tên bắn. Tạ Thần An nghe xong không mảy may chau mày, chỉ lạnh lùng cảnh cáo đại phu không được ra ngoài hồ ngôn loạn ngữ.
Lo nhạc phụ chưa quen cuộc sống mới, hắn thân chinh tới thăm hỏi hàng xóm, dặn bọn họ khi ra ngoài vui chơi nhất định phải rủ nhạc phụ đi cùng. Vì điều đó, hắn năm lần bảy lượt mang gà mang vịt biếu tặng các nhà.
Nhìn qua là biết nhạc mẫu xuất thân khuê các, đôi tay mềm đến độ còn quý hơn cả tay mẫu thân hắn – người đã được nuông chiều từ bé.
Thế là Tạ Thần An cũng dặn dò hàng xóm: “Nhạc mẫu ta muốn trải nghiệm dân sinh, mà ta không dám cản. Nhưng làm việc nặng thì chớ giao, cứ để nàng làm nữ công thôi. Làm nhiều làm ít, bạc ta trả.”
Không ngờ, đúng lúc ấy Chu Mộng Uyển trở về Trung Châu. Gặp lại Tạ Thần An, nàng vui mừng ôm chầm lấy hắn một cái. Hắn cũng chẳng nghĩ gì, cứ xem đó là ôm giữa huynh đệ chí cốt. Nào ngờ, hành động ấy lại lọt vào mắt Tiểu Đào.
Chu Mộng Uyển không còn giống xưa. Tạ Thần An đoán, chắc do gió bụi kinh thành đã khiến nàng đổi thay.
Hai người trò chuyện vui vẻ. Nàng uống rượu hỏi hắn đã thành thân chưa, phu nhân là người thế nào, có thật lòng yêu hay không?
Tạ Thần An xưa nay là người thật thà, huynh đệ hỏi sao hắn đáp vậy. Uống một ngụm rượu, hắn chỉ vào cánh tay mình mà cười:
“Phu nhân ta ấy à… eo nhỏ không bằng bắp tay ta. Ôm vào lòng mềm đến không nỡ buông. Ta chẳng biết diễn tả thế nào, chỉ có thể nói: mềm, và thơm.”
“Ta đương nhiên là thích nàng. Trước giờ chưa từng thích ai như thế. Từ lần đầu tiên gặp nàng, ta đã biết: kiếp này, ta nhìn trúng nàng rồi.”
Tạ Thần An nói đến đây, men rượu dâng đầy, lòng ngập tràn ấm áp, chẳng hề để ý sắc mặt Chu Mộng Uyển bỗng trở nên ảm đạm.
Hắn càng không hay biết rằng, trong lúc hắn khổ sở dỗ dành mẫu thân ưa gây sự của mình, thì vị “huynh đệ” kia lại ngấm ngầm xúi giục tiểu thê tử hắn đòi hòa ly.
Khi Mạnh Nhược Khê đưa ra lời “hoà ly”, Tạ Thần An sợ đến mấy hôm chẳng dám về phủ.
Chuyện đâu có thể như thế được? Hắn thậm chí chẳng rõ bản thân đã chọc giận nàng ở điểm nào. Đành trốn trong công đường, chờ cho nàng nguôi giận mới về nhà dỗ dành.
Chỉ tiếc, phàm là chuyện dỗ nữ nhân, chậm một khắc là sai cả đời.
Hắn nghĩ: “Mẫu thân của ta đúng là ra tay quá quyết tuyệt, khiến cho ta không yên ngày nào.”
Hắn không dám không đồng ý với nàng – bởi vì nàng khóc quá thảm, khiến hắn chịu không nổi.
Dĩ nhiên, Tạ Thần An không thực sự muốn cùng nàng hoà ly. Hắn chỉ viết một tờ giấy giả, không hề đem đăng ký hoà ly ở nha môn. Chỉ là viết tạm cho nàng coi, như trò đùa dỗ trẻ con.
Viết xong, lại sợ nàng hiểu lầm rằng hắn chẳng quý trọng nàng, bèn gom hết của cải trong phủ trao cho nàng giữ.
Tạ Thần An hiểu rõ, Mạnh Nhược Khê là người mềm lòng. Nàng mà còn cầm bạc của hắn, thì nhất định sẽ không đành lòng bỏ rơi hắn.
Cho nên, hắn vẫn mặt dày lui tới tìm nàng như cũ. Dù sao, viện nhỏ kia cũng là do hắn chọn cho nàng, hắn vốn đã định sớm chuyển ra ngoài, chỉ là chưa tìm được cớ để rời khỏi mẫu thân.
Nào ngờ, chính người hắn gọi là “huynh đệ” lại xúi giục mẫu thân hắn, nhân lúc hắn đi làm mà bắt nạt tiểu thê tử.
Nghe tin Mạnh Nhược Khê ngất xỉu, Tạ Thần An thật sự nổi giận.
Hắn chưa từng ra tay với nữ nhân. Nhưng Chu Mộng Uyển là người đầu tiên bị hắn b-óp c-ổ.
“Ta… nói đều là thật mà…”
Thanh âm của Tạ Thần An lạnh đến độ chính hắn cũng phải rùng mình.
“Ta mặc kệ thật hay giả, ngươi dám ức hiếp nàng, chính là muốn ch-ết.”
Mạnh Nhược Khê dần tỉnh lại, đôi mày nhỏ khẽ nhíu, gương mặt nhợt nhạt như đóa hoa bị dập vùi nơi sương gió, chỉ còn chờ tàn úa. Tạ Thần An kinh hồn bạt vía, hắn có cảm giác chỉ một khắc nữa thôi, nàng sẽ ngã xuống, vĩnh viễn không tỉnh lại.
Nhưng Mạnh Nhược Khê lại kiên cường hơn bất cứ ai.
Nàng chẳng rơi lấy một giọt lệ, từng chữ từng lời, đem bao tủi nhục những ngày qua chậm rãi kể lại.
Tâm Tạ Thần An thắt lại từng hồi, đau đến mức hắn tưởng chừng chính bản thân mới là kẻ muốn ngã quỵ.
Hắn bỗng nhớ đến năm xưa Thục hầu mang cớ mượn kiếm đến Trung Châu tìm hắn.
Hắn bẻ gãy bảo kiếm, là ngầm biểu thị lòng trung thành với thiên tử, quyết không theo loạn.
Nhưng lúc này, nhìn Mạnh Nhược Khê như thế, Tạ Thần An hận bản thân đến nghiến răng nghiến lợi, vì cớ gì năm đó không thuận tay, lật luôn long ỷ kia?
Trung quân ái quốc ư?
Trước mặt Mạnh Nhược Khê, tất thảy đều là vớ vẩn!
Tạ Thần An, đúng là một kẻ si tình không có giới hạn.
Bao năm tận tụy làm Văn Uyên hầu, vì dân vì nước quên mình, đến cưới vợ cũng không có thời gian. Nay gặp được Mạnh Nhược Khê dịu dàng yếu đuối — ấy là trời cao ban thưởng sau bao kiếp hành thiện của hắn.
Vậy nên, ai dám cản đường ta hưởng phúc bên giai nhân, đều phải ch-ết!
Việc Thẩm thị lén tìm Chu Mộng Uyển, Tạ Thần An sớm đã biết.
Hắn cho người ẩn thân rình rập ngoài Chu phủ, chẳng bỏ sót nhất cử nhất động.
Chim bồ câu bay về kinh thành bị chặn giữa đường.
Chu Ngự sử muốn tố giác, phá chuyện tốt của hắn?
Vậy đừng trách Tạ Thần An ra tay độc ác, chẳng màng tình xưa nghĩa cũ.
Đám sơn tặc ngoài thành từ lâu đã bị hắn đánh cho sợ mất mật, nghe tên hắn đã run như cầy sấy.
Nhận lệnh xong, chúng đội mưa, vùi mình trong bùn đất một canh giờ chờ thời.
Chu Ngự sử dám phản kháng, chẳng lẽ tưởng bọn chúng chỉ là đám thổ phỉ hiền lành?
Đao vung lên, sạch như quét lá mùa thu.
Sau khi Chu Mộng Uyển bị sỉ nhục, nàng cũng chẳng muốn sống.
Nàng nhào tới, khóc lóc van xin Tạ Thần An:
“Ngài biết nàng ta từng chịu khổ nhường ấy, sao đành lòng để ta cũng phải chịu nỗi đau tương tự?”
Tạ Thần An quả thật không nỡ. Vì vậy, ngay khi nàng nhào vào lòng hắn, hắn âm thầm nhấc đao.
Khi Chu Mộng Uyển, hắn thong thả lau vết m-áu, rồi quay sang tán thưởng cùng đám sơn tặc:
“Thấy chưa, thế nào là trung nghĩa, chính là như vậy.”
Đám sơn tặc gật đầu lia lịa:
“Hầu gia nói phải lắm. Hôm qua nàng ta còn rên rỉ vui vẻ như vậy, quả nhiên không phải nữ tử tầm thường. Quả cảm!”
Rồi sau đó, Tạ Thần An quyết tâm báo thù cho Mạnh Nhược Khê.
Tiểu thê tử của hắn là người hiền lành, bị bắt nạt thì chỉ biết trốn vào góc, nuốt nước mắt vào trong.
Còn Tạ Thần An thì không như vậy.
ã nói là làm, kéo Thục hầu gả con trai, mượn cớ tụ họp, mời rượu, rồi bàn mưu tạo phản ngay trong đêm.
Chẳng ngờ, về phủ thì thấy nhà bị trộm sạch.
Tạ Thần An chẳng thể không tức giận, nhưng hắn là người làm đại sự, chẳng vội phiền lòng.
Tiểu thê tử không ở bên, cũng tốt, hắn càng có thể buông tay làm chuyện lớn.
Vị hôn quân thân thể suy yếu, lại đi khắp nơi cầu tiên luyện đan, đúng là tự đào hố chôn mình.
Chư hầu khắp nơi còn do dự, nhưng sau hai năm bố trí, thời cơ đã tới.
Tạ Thần An mài dao chờ ngày phản loạn, theo Thục hầu giương cờ chính nghĩa, tiến quân vào kinh.
Thục hầu đăng cơ, cải cách chính sự. Tạ Thần An nhìn tất cả, chỉ thấy hài lòng.
“Nếu có thể tẩy sạch tội danh phản nghịch cho phu nhân ta, thì hoàn mỹ.”
Thục hầu tuy làm phản nhưng là bậc minh quân, vốn xuất thân hèn kém nên rất trọng nghĩa khí.
Sau khi lên ngôi liền ban lệnh chăm sóc dân đen, ưu đãi phụ nữ và trẻ nhỏ, lấy lòng dân gian, uy danh lan xa.
Thấy thời cơ đã chín, Tạ Thần An quyết định đi tìm tiểu thê tử của mình.
Nhà cửa đã tan vài năm, cũng đến lúc đoàn viên.
Tân đế nhiều lần khuyên giữ, song vẫn không nhịn được buột miệng than rằng:
“Giá mà Văn Uyên hầu không phải kẻ si tình thì hay biết mấy.”
Nhưng Tạ Thần An đích thực là kẻ si tình như vậy.
Hắn mang theo đứa con trai một tay bồng bế tắm rửa nuôi nấng, lên đường tìm vợ.
Mạnh Nhược Khê chẳng hề hay biết, năm đó điều Tạ Thần An định tặng nàng là một đứa con — một tiểu hài nhi mà hắn đã nhận nuôi.
Tạ Thần An biết nàng không thể sinh con, nên hắn muốn đích thân giải quyết nỗi niềm ấy, để tình cảm lứa đôi vững bền mãi mãi.
Hắn đâu ngờ, tiểu thê tử của hắn lại đột nhiên biến mất.
Thế là hắn vừa tạo phản vừa nuôi con.
Nhìn thấy tiểu hài tử từ xa nhào vào lòng mẫu thân, hai mẹ con ôm nhau mà khóc,
Tạ Thần An chỉ thấy một chữ: ĐÁNG!
[Hoàn]