Rời Khỏi Phí Phủ - Chương 2
Người trong phủ thấy gió đổi chiều, nịnh nọt chủ tử, lén hãm hại ta. Từng đống thêu hoa làm thâu đêm không xuể, từng chậu y phục đầy, khiến tay rớm m-áu vẫn không đủ để giao nộp cho bọn họ.
Cơm canh thừa lạnh từ bếp ăn, khiến bụng ta đêm đêm đau quặn.
Mùa hè khắc nghiệt, mới nửa tháng ta đã gầy rộc đi một vòng, bệnh nặng mà không có bạc mua thuốc.
Mama thương tình, lén đưa thuốc sắc cho ta.
Một ngày nọ, thấy ta mặt mày ủ rũ, bà thở dài, kể ta nghe chuyện xử án ở phủ Ứng Thiên.
Chính thất nhà quyền quý đem thiếp bán vào thanh lâu, thiếp bị hành hạ đến ch-e-t
Người nhà kêu oan, quan phủ lại xử phạt… năm mươi lượng bạc.
Cùng năm, phu xe nhà quyền quý để ch-e-t một con ngựa, chủ nhân đệ đơn kiện, cuối cùng phu xe ấy bị phán tội lưu đày.
“Con à.” Bà nói, “Đã là kẻ có thể bị mua b-án, thì trong mắt chủ tử đâu còn coi là người, có khi không bằng con vật.”
Là nô cũng thế.
Là thiếp cũng vậy.
2
Ngày lễ đội mũ của Phí Hoán sắp đến, trong phủ ngày một thêm náo nhiệt.
Bọn hạ nhân đua nhau trổ tài lập công, ta lại nhàn hạ chưa từng có. Đến việc thêu đai lưng cho công tử, một công việc vốn thuộc phần ta, cũng bị kẻ khác tranh đoạt.
Vài nha hoàn ríu rít giễu cợt hoàn cảnh của ta. Một nha hoàn tên Tiểu Liễu nhìn thấy đôi hài đang làm dở trên bàn, đôi mắt sáng rỡ, liền không khách sáo mà nhét vào lòng, nói:
“Cần gì phải khổ như vậy? Cứ bày đặt làm đôi giày tốt thế này. Công tử giờ nghe đến tên ngươi là giận dữ, đem giày tới chẳng phải chỉ chuốc lấy nhục sao? Để ta làm giúp, biết đâu còn nói vài lời hay thay ngươi, tương lai được gả cho một tiểu tư khá khá cũng nên.”
Ta chẳng ngăn cản.
Đôi hài kia vốn là do Phí Hoán năn nỉ suốt nửa năm, ta mới chịu động tay vào làm.
Nay có kẻ giành lấy việc khổ nhọc ấy, hà cớ gì ta phải can ngăn?
Điều khiến ta ưu phiền hiện tại, chính là trong phủ quá bận rộn, phu nhân chẳng rảnh rỗi để ý đến ta, dù cầm trong tay bạc trắng cũng chẳng tìm được thời cơ chuộc thân.
….
Lúc ấy, lại nghe Tiểu Liễu Nhi cùng mấy nha đầu nói rằng: Sau lễ đội mũ, công tử sẽ thành thân, trong viện sắp có người mới, phu nhân đã sai đại nha hoàn thân cận bên mình là Minh Nguyệt phụ trách việc điều chuyển thân phận.
Cơ hội đây rồi.
Ta lôi túi bạc do Kiều Thích gửi, tìm đến Minh Nguyệt. Nàng vừa trông thấy số bạc lớn như vậy, liền giật nảy mình:
“Ngươi đừng dại dột, vì giận mà làm liều, tự bán mình cho kẻ nào đó thì nguy hiểm lắm.”
Nàng nhìn ta, ánh mắt đầy lo lắng.
Biết nàng là người có lòng tốt, ta liền kể rõ đầu đuôi: “Chỉ cầu tỷ tỷ cho ta một đường sống.”
Minh Nguyệt chau mày, ngẫm nghĩ: “Chuyện này phải để phu nhân đồng ý. Nhưng ta sẽ cố giúp ngươi một tay.”
Vừa dứt lời, ngoài khung cửa có tiếng động, phu nhân đưa Phí Hoán bước vào, Minh Nguyệt vội bảo ta núp sau tủ.
Rèm cửa được vén lên, phu nhân mang vẻ gấp gáp, nghiêm khắc trách:
“Ngươi ấy à, đại sự đội mũ không để tâm, chuyện cưới hỏi thì dây dưa không quyết, suốt ngày sát khí ngập trời. Mới rồi, thái độ của ngươi với Sở tiểu thư là sao vậy hả? Nói vài câu đã không kiên nhẫn, làm người ta rơi lệ đầm đìa.”
Phí Hoán cài chặt cổ tay áo, vẻ uể oải: “Ta chỉ ghét nữ nhân khóc, ồn ào muốn ch-et.”
Phu nhân răn:
“Đó là vợ tương lai của ngươi! Nếu ngươi ghét, chẳng lẽ lại thích cái đứa không ra gì ở viện ngươi?”
Không khí trong phòng bỗng chốc ngột ngạt.
Phu nhân cũng bị khí thế của hắn áp chế, bèn lảng sang chuyện khác, hỏi Minh Nguyệt chuyện thân khế.
Dịp phủ có việc vui, vài nô bộc lớn tuổi nhân cơ hội đến xin được trả về làm dân thường. Phu nhân phần lớn đều gật đầu thuận theo.
Minh Nguyệt nhân đó nhắc đến chuyện của ta, cố ý giấu tên, chỉ nói là một nha đầu giặt quần áo. Phu nhân bận trăm công nghìn việc, chỉ gật đầu cho qua.
Phí Hoán lúc ấy đang quay người định bước đi, nghe tới đó lại khựng lại, nghiêng đầu hỏi:
“A hoàn nào?”
Minh Nguyệt sắc mặt không đổi, cười:
“Ôi, công tả à, một đứa nha đầu quèn, ngài chẳng biết mặt đâu. Nó không may mắc bệnh, đúng lúc có huynh trưởng tới chuộc, vừa vặn cho ra khỏi phủ là tốt rồi.”
Phu nhân nghe nói bị bệnh thì cau mày chán ghét, khoát tay:
“Bạc thì thôi khỏi cần, mau đuổi đi cho rảnh nợ.”
Phí Hoán nghe đến có “ca ca” thì lại trở về dáng vẻ dửng dưng, không hỏi nữa, bước qua rèm trúc, bóng lưng khuất dần trong ráng chiều rực đỏ.
Nắng gay gắt rọi vào mắt, ta cúi đầu, chẳng nhìn nữa.
…
Sau khi phu nhân rời đi, ta cảm tạ Minh Nguyệt, lấy bạc định hậu tạ, nàng xua tay:
“Ca ca ngươi tuy có bạc, nhưng chẳng thể chăm sóc ngươi suốt đời. Thân cô thế cô, có tiền bên người còn tốt hơn.”
Ta cảm động nhìn nàng, khẽ nói: “Minh Nguyệt tỷ, ta…”
Nàng nhéo nhẹ má ta, mím cười:
“Nha đầu ngốc, đừng có khóc. Ngày lành vẫn còn phía trước kìa.”
Nhờ Minh Nguyệt giúp, ta nhanh chóng lấy được thân khế, chỉ còn việc đến nha môn làm giấy hoàn lương, là có thể rời phủ, sống đời tự do.
…
Ngày hẹn với Kiều Thích là đúng ba hôm sau – cũng là hôm Phí phủ tổ chức lễ đội mũ cho Phí Hoán. Khách quý đến chúc mừng không ngớt, lễ vật như nước chảy vào phủ, ai ai cũng bận rộn không ngơi chân.
Ta chẳng có nhiều hành lý, chỉ vài bộ xiêm y cũ và đồ lặt vặt, gói gọn trong một bọc nhỏ.
Căn phòng sạch sẽ, vắng lạnh.
Lúc chuẩn bị khóa cửa, ta vô tình nhìn thấy chiếc trâm bạc cũ, do chính tay vị tiểu công tử cao quý kia từng tỉ mỉ khắc suốt nhiều ngày.
Hắn từng nói: “Nàng là yến tử trong tay ta.”
Một cơn gió nhẹ lay động hoa lá trong sân.
Ta tháo trâm bạc, đặt lại trên bậu cửa sổ, giống như khi ta mới đến nơi này.
Hạ sang xuân tàn, gió đông héo úa, yến về lầu vắng.
…
Ta cố ý men theo đường nhỏ trong hoa viên, từ biệt mama, định ra khỏi cửa góc thì chẳng ngờ lại gặp tiểu tư Lai Hỉ của Phí Hoán.
Hắn lĩnh không ít tiền thưởng, uống rượu vào mặt mày hớn hở, đang khoác lác đùa giỡn cùng vài tiểu tư khác.
Ta lặng lẽ bước qua bên người hắn.
Ban đầu hắn ngơ ngác nhìn ta, rồi nhếch miệng cười:
“Ồ, ai kia nhỉ? Chẳng phải là Yến cô nương cao ngạo hay sao? Sao mới mấy hôm không gặp đã gầy thế kia?”
Ta không đáp lời, chỉ liếc qua đường, thấy một nam nhân cao lớn đội đấu lạp ngồi trên xe bò.
Nam nhân ấy thấy ta liền nhảy xuống, bước tới.
Lai Hỉ liêu xiêu đứng dậy, miệng vẫn lắm lời:
“Ngày tháng khó sống phải không? Ai bảo cô chọc giận công tử, hại cả ta cũng bị liên lụy. Giờ muốn quay về bên công tử, e là không dễ.”
Hắn cố ý lấy ra một viên đông châu sáng lóa:
“Sở tiểu thư kia vừa xinh đẹp vừa dịu dàng, đối với công tử thì ân cần chu đáo. Hôm nay hai người sóng đôi, ai cũng nói là kim đồng ngọc nữ đấy!”
Sở gia vốn danh gia vọng tộc, lại yêu thương con gái, tuy quy củ nghiêm khắc, nhưng cũng là nơi bao nhiêu gia đình quyền quý mong kết thân.
Phí Hoán lấy được Sở tiểu thư, tiền đồ coi như định sẵn.
Ta khẽ cười, nói lời chúc mừng.
Lai Hỉ sững sờ, dường như thấy ta không hề tỏ vẻ ghen tỵ hay đau lòng, liền thấy bối rối khó chịu.
Lúc ấy, nam tử bên kia đường đã bước đến, không nói một lời, đón lấy bọc hành lý trên tay ta.
Lai Hỉ chợt tỉnh rượu, nửa ngờ nửa sợ, lắp bắp hỏi ta:
4
“Ai kia vậy? Ngươi định đi đâu?”
Ta không đáp.
Lúc ấy ta vẫn chưa bước ra khỏi nhà họ Phí, nếu để Phí Hoán hay biết ta lặng lẽ rời đi, e rằng hậu họa khó lường.
Lai Hỉ say khướt, chân xiêu vẹo bước theo sau xe bò, lè nhè:
“Này, ta nói cho ngươi hay, cái trò bỏ nhà đi này chẳng còn hiệu quả đâu. Công tử nhà ta chẳng rỗi hơi đi dỗ dành nữa đâu, còn phải theo gia pháp mà đánh roi nữa kia, khuyên ngươi nên biết điều…”
Mắt hắn đỏ ngầu, tay vươn ra định kéo ta khỏi xe.
Một bàn tay giữ chặt cổ tay hắn. Người đội nón lá, che khuất nửa mặt, chính là Kiều Thích.
Hắn hất mạnh tay, Lai Hỉ loạng choạng lùi mấy bước, ch-ết trân tại chỗ.
“Nàng không phải kẻ để ngươi tùy tiện động đến.” Kiều Thích trầm giọng, như gió lướt qua lá trúc.
Ta nhìn sang hắn, ánh sáng mờ chiếu qua mành lưới đấu lạp, rọi xuống gương mặt trắng như ngọc ẩn chứa phong trần.
Phảng phất khí chất giang hồ, song sống mũi thẳng như ngọc, phong thái nhã nhặn, tưởng như chẳng thuộc chốn phàm trần. Ta nhất thời thất thần, mãi đến khi xe đã rời khỏi con phố trước phủ.
Lúc này, ta mới hoang mang lên tiếng: “Kiều ca ca…?”
Khóe môi hắn khẽ nhếch, như cười vì ta giờ mới xác nhận thân phận.
“Ta thay đổi nhiều lắm sao?” Hắn hỏi.
Ta đang định lắc đầu, thì hắn hơi nâng vành đấu lạp — trán nhẵn nhụi, trọc lóc, khiến ta sững sờ.
Lần cuối cùng gặp hắn, ta còn chưa bị bán, hắn cũng chưa xuất gia, tóc đen óng mượt, còn đẹp hơn cả thiếu nữ.
Hồi ấy lúc chia ly, hắn năn nỉ sư phụ cho ta một bao lương khô, cùng chiếc chìa khóa nhà cũ.
Hắn dặn ta phải học chữ, học sách, rằng tất cả thư tịch trong nhà đều để lại cho ta.
Nhưng ta chưa kịp giở một trang thì đã bị cha kéo lên xe buôn người.
Về nhà họ Phí, Phí Hoán không thích ta đọc sách, thà dạy ta cưỡi ngựa, bắn tên, chứ chẳng cho đụng đến một cuốn sách nào.
Hắn bảo:
“Nữ tử biết vài chữ, đọc được thư tình, xem được sổ sách là đủ. Hà tất phải khổ sở học những thứ cổ văn vô nghĩa như nam nhân?”
Thế nên đến nay ta vẫn chưa đọc trọn được một cuốn sách.
Mà Kiều Thích hôm nay lại như một cao tăng đắc đạo, khiến người không dám khinh nhờn.
Ta vừa ngưỡng mộ, vừa dè dặt.
Nhưng xem cách hắn hành xử, tiện tay cho ta một túi ngân lượng lớn, lại dường như không phải hạng người giữ giới luật nghiêm cẩn.
Trong lòng ta nổi lên nghi hoặc, bất giác chắp tay kính cẩn, buột miệng hỏi:
“Kiều ca ca… huynh hoàn tục rồi ư?”
Kiều Thích nhìn động tác ta, phì cười, đùa giỡn:
“Yên tâm, hoàn tục rồi. Không bắt cô vào chùa làm tiểu ni cô đâu.”
Ta nhẹ nhàng thở ra.
Nhưng lại lén liếc nhìn đầu hắn.
Hoàn tục rồi mà không nuôi tóc, thực là kỳ lạ.
Xe dừng trước một tiểu viện nằm sâu trong hẻm bên đông miếu Phu Tử, tuy đơn sơ nhưng sạch sẽ.
Kiều Thích bảo ta cứ ở tạm nơi này, đợi giấy tờ khai ra khỏi nô tịch hoàn tất, sẽ đưa ta về quê hương.
Ta vâng lời, cảm kích dâng bạc trả lại, bảo tiền chuộc thân không tiêu hết. Hắn xua tay, bảo ta giữ lấy, về quê buôn bán gì đó cũng tiện.
Ta biết ơn vô vàn, hắn chỉ khẽ mỉm cười.
…
Vào trong viện, có một thiếu niên chừng mười ba mười bốn đang đứng đó.
Tóc tai đủ đầy, nhưng lại gọi Kiều Thích là sư phụ.
Ánh mắt cậu ta nhìn ta lạnh nhạt, có vẻ quen thuộc, chính là loại ánh mắt cao ngạo lạnh lùng của công tử quyền quý như Phí Hoán.
Kỳ lạ thật.
Cậu ấy như thể coi ta là thứ ngoại lai không nên xuất hiện, thái độ vô cùng khó chịu.
Kiều Thích không đáp.
Tất cả đều kỳ lạ.
Nhưng ta vốn vô tâm vô tính, nghĩ ở tạm vài ngày cũng chẳng sao, chỉ cần nhẫn nại một chút, sớm muộn cũng có thể về quê.
…
Về phần bên kia, Lai Hỉ thấy Yến Nhi bị một nam nhân lạ dắt đi, sợ hãi chạy về bẩm báo với Phí Hoán.
Gã vỗ mặt cho tỉnh rượu, chân còn run rẩy.
Phí công tử kia tính tình vốn khó chiều, ngang ngược vô cùng, thường ngày coi thiên hạ không ra gì, vậy mà mỗi lần đụng đến Yến Nhi thì như biến thành người khác.
Lúc vui thì nâng như trứng. Lúc giận thì lòng dạ sắt đá, muốn dạy dỗ phải phục tùng tuyệt đối.
Yến Nhi này lại chẳng biết điều, bỏ đi chẳng nói một lời.
Lai Hỉ chỉ mong hôm nay lễ đội mũ của công tử diễn ra suôn sẻ, đừng chuốc giận rồi trút lên đầu kẻ hầu người hạ.
…
Nhưng trời chẳng chiều lòng người.
Phí Hoán lúc này đang trong thư phòng, đập bàn ném bình, giận dữ rống lên:
“Cái thứ họ Hồng kia là cái thá gì? Thái giám không gốc gác, thứ tiện nhân đổ bô, cũng xứng làm chủ lễ cho ta?”
Phu nhân cuống quýt dỗ dành:
“Con à, nhỏ tiếng chút, để phụ thân nghe thấy thì…”
Bà vội phân trần:
“Sở tiểu thư nhận lão Hồng làm nghĩa phụ, trong cung lão là người của Quý phi, nắm quyền ở Giám Lễ Tự, triều đình kẻ nào chẳng kiêng nể? Hôm nay tới đây là nể mặt con đó.”
“Ha, nể mặt?” Phí Hoán cười lạnh “Ai ai cũng tranh làm con hắn, ta nhất định phải thuận theo sao? Phụ thân không biết xấu hổ đi mời thứ đó đến, bắt ta nịnh nọt hắn, thì sao không tự làm con hắn, ta còn gọi hắn là ‘gia gia’, chẳng phải càng có hiếu hơn người?”
Một tiếng “Nghiệt tử!” vang lên như sấm.
Lai Hỉ còn chưa kịp vào đã thấy lão gia từ ngoài xông vào, vén rèm, tát một cái như trời giáng.
Phí Hoán từ nhỏ được cưng chiều, chưa từng chịu khổ, nay ăn một cái tát nảy lửa, má đỏ bừng.
Phu nhân đau lòng, nhưng không dám cãi lời lão gia.
Lão gia run tay, ngồi xuống, thở nặng nề:
“Ngươi tưởng lễ đội mũ có bao nhiêu quyền quý đến là vì ngươi sao? Là vì Phí gia, vì mặt mũi tổ tiên nhà ta.”
“Ngươi tưởng Sở tiểu thư lấy ngươi là vì ngưỡng mộ ư?”
Ông hận con không nên người, lắc đầu.
“Dựa dẫm vào chút cơ nghiệp tổ tiên mà không vào quan lộ, suốt ngày cưỡi ngựa thả diều, ngươi có biết triều cục giờ thế nào không?”
Rồi ông kể về biến loạn trong triều, về hoàng đế già yếu, về vị quý phi chuyên sủng, về hoạn quan thao túng. Về đứa con cháu hoàng tộc bị gi-ết chỉ vì mang huyết mạch hoàng gia.
Cuối cùng, ông nhìn thẳng Phí Hoán, trầm giọng:
“Cha cũng không muốn con chịu nhục, cưới người con không yêu. Nhưng giờ không thể không chọn phe.”
“Con từ nhỏ muốn gì được nấy. Nay ta nói, sau này sẽ không còn như vậy nữa. Cái ý định muốn nạp tiểu nha đầu kia làm thiếp, quên đi là vừa.”
Phí Hoán ngẩng đầu, mắt đỏ ngầu.
Lão gia lạnh lùng:
“Con nghĩ, không có thân phận công tử nhà họ Phí, con lấy gì để bảo vệ nàng? Nhà họ Sửở có thái giám chống lưng, con không sợ nàng ta bị Sở tiểu thư ghét bỏ mà rơi vào cảnh mất mạng ư?”
Phí Hoán ngây ra.
Kẻ xưa nay coi trời bằng vung, lần đầu phát hiện bản thân chẳng thể làm theo ý mình.
Bên tai là tiếng khóc nén của mẫu thân.
Trước mắt là bóng phụ thân với râu bạc phơ, run run trong làn gió hạ.
Yếu đuối.
Phụ thân sao lại yếu đuối như thế?
….
Lai Hỉ đứng ngoài nghe trọn, nhìn công tử thất thần bước ra, thầm kêu: To rồi, to chuyện rồi.
Nếu giờ mà nói Yến Nhi đã bỏ đi, chẳng phải hại cả thân mình sao?
Hắn lập tức quyết định giấu nhẹm, còn dặn mấy tiểu tư ở góc cửa giữ kín miệng.
Từ đó, Phí Hoán bị nhốt trong viện, không được phép gặp lại Yến Nhi.
Lai Hỉ giấu chuyện đến kín như bưng, khiến hắn vẫn tưởng nàng còn ở trong phủ.
Chỉ cần nhẫn nhịn một thời gian…
Mọi chuyện rồi sẽ khá hơn.
Nào ngờ… còn tệ hơn nhiều.
6
Hỏng bét rồi!
Ta bị một thiếu niên kéo chạy giữa chợ đông, ngõ hẹp, lòng ta như có lửa đốt, chỉ hận bản thân vì cớ gì mà nửa canh giờ trước lại dại dột xen vào chuyện không đâu.
Nửa giờ trước, mọi thứ vẫn bình yên.
Chẳng rõ dùng cách nào mà Kiều Thích giúp ta sớm có được giấy khai thoát nô, còn vì ta thuê luôn cả một chiếc thuyền, dặn dò ta giữa đường phải cẩn thận, và tuyệt đối không được kể với bất kỳ ai rằng từng gặp qua huynh ấy và thiếu niên kia.
Ta tuy không hiểu rõ nguyên do, nhưng cũng biết ai cũng có nỗi khó xử, đã được người giúp thì không nên được đằng chân lân đằng đầu, nên ta ngoan ngoãn gật đầu, hứa sẽ giữ kín như bưng.
Ngay sau đó, Kiều Thích nhận một phong thư bằng chim câu, trông có vẻ khẩn cấp lắm, đọc xong bèn lập tức rời đi.
Ta tới bến đò, vì thuyền dân sáng sớm phải đợi quan thuyền qua trước mới được đi, nên ta tìm một quán vằn thắn bên cạnh ngồi chờ.
…
Trước khi kịp đưa bát hoành thánh vào miệng, ta đã thấy thuyền lớn của triều đình cập bến, cờ xí Đông Xưởng phần phật phất gió, từng hàng cẩm y vệ hông đeo trường đao bước lên bờ, gió sông thốc qua, tanh nồng mùi m-áu, khiến người rợn tóc gáy.
Vài người bước tới quán gọi vằn thắn, tên cẩm y vệ cầm đầu thúc giục, nhưng một kẻ trẻ hơn trong nhóm uể oải nói:
“Mấy hôm nay huynh đệ ta chém đến mỏi tay, ngay cả đầu trâu mặt ngựa cũng nên cho nghỉ ngơi một chút chứ?”
Tên đứng đầu liếc hắn một cái:
“Ngươi thấy mỏi, thì tự đi mà nghỉ. Từ núi Tử Vân lần theo đến tận Nam Kinh, còn sót lại một người này, là xong nhiệm vụ.”
Người trẻ nhăn mặt:
“Những người khác thì thôi cũng đành, chứ hòa thượng cũng gi-ết sao? Đại ca, chi bằng giao chuyện này cho Tây Xưởng, bọn họ ngày ngày rảnh rang, còn ta thì sau này có tu kiếp sau cũng chẳng dám gặp Phật tổ.”
“Bớt lắm lời.” Tên kia đoạt bát hắn cầm. “Tay ta với ngươi nhuộm m.áu thiên hạ, tụng kinh tám đời cũng chẳng rửa sạch. Tên họ ta đã bị Diêm Vương ghi vào sổ.
“Mau đi bắt người. Ta về trấn phủ tư báo cáo, lo xong chuyện, đêm nay ta đãi rượu ở Xuân Phong Lâu, mạnh hơn cái thứ nước canh này gấp mười phần.”
Kẻ trẻ lười nhác thở dài, uể oải nhấc thanh đao dài nơi bàn.
“Được rồi…”
Thế nhưng khi tên cầm đầu dẫn người đi, hắn lại quay về, ngồi xuống, tiếp tục ăn, rõ là định ăn xong mới hành sự.
…
Ta núp nơi góc sau nghe trọn, lòng như nổi trống, hồn vía chưa kịp về đã thấy chân tự động động đậy.
Hòa thượng ở núi Tử Vân?
Chẳng phải là Kiều Thích hay sao!?
Ra khỏi phủ Phí bao ngày nay, ta nghe không ít lời đồn. Cẩm y vệ truy tìm hoàng tôn, gặp kẻ nào từ mười ba, mười bốn tuổi có chút đáng nghi đều bị theo dõi. Thà gi-ết nhầm ngàn người, chứ không để sót một ai.
Nghĩ đến dáng vẻ thần bí của Kiều Thích cùng thiếu niên tên A Tiềm, mồ hôi lạnh của ta ròng ròng.
Thật ra ta sợ lắm, trong lòng chỉ mong coi như không thấy, giả điếc làm ngơ.
Nhưng trong ngực ta – bạc nặng tựa đá, còn lương tâm thì càng nặng hơn – khiến ta chẳng thể ngoảnh mặt quay lưng.
Một mạng người đấy!
Ta âm thầm rời bến, chạy như bay về tiểu viện phía sau miếu Phu Tử. Mồ hôi đầm đìa, còn chưa kịp tới cửa đã va phải thiếu niên tên A Tiềm đang từ ngõ nhỏ bước ra.
“Sao lại quay về?” Hắn nhíu mày.
Ta thở dốc, giọng khàn đặc:
“Chạy đi… có người muốn… gi-ết ngươi…”
Sắc mặt hắn biến đổi, kéo ta vào hẻm, nghe ta nói sơ qua mấy câu, tay liền siết mạnh lấy cổ tay ta đến phát đau:
“Trúng kế rồi!”
Ta còn ngơ ngác thì…
Trên đầu vọng xuống tiếng cười lạnh.
Trên tường, tên cẩm y vệ trẻ tuổi ban nãy thản nhiên ngồi xổm, hé miệng cười, hàm răng trắng dã như bầy sói trong đêm:
“Tìm được rồi.”
Da đầu ta tê rần, lông tóc dựng đứng.
“Chạy!” A Tiềm hô lớn.
Hắn thông thuộc từng lối tắt, xô đổ đống rơm, kéo ta vòng vèo các hẻm nhỏ, quả thực đã bỏ xa được đám truy binh một đoạn.
…
May mà đầu óc hồ đồ của ta giờ vẫn còn đủ tỉnh táo để hiểu ra sự tình.
Chuyện là như vậy: bọn cẩm y vệ cố ý rề rà, để kẻ có tâm nghe được mà đi báo tin, kéo người vào bẫy.
Dụ rắn ra khỏi hang.
Bọn họ coi người ta là kẻ ngốc để đùa giỡn!
Và ta… thực sự đã bị đùa thành một kẻ ngốc mất rồi.
A Tiềm cũng giận đến tím mặt.
Ta làm vướng chân vướng tay, còn Kiều Thích thì hắn không thể bỏ lại.
M-áu nóng nghẹn nơi cổ họng, mấy lần ta suýt bị đám cẩm y vệ bắt kịp. A Tiềm cố tình lao vào chốn đông người để kéo dài thời gian.
Cũng may…
Ngay lúc tuyệt vọng, Kiều Thích tìm được bọn ta, cưỡi xe ngựa cũ kỹ, kéo ta lên.
Vừa leo được lên, A Tiềm không nói hai lời, rút cung, giương tên bắn về phía sau.
Bọn cẩm y vệ vốn chưa nắm chắc, nhưng vừa thấy hắn liều mạng như vậy, liền càng khẳng định thân phận. Bọn chúng né được tên, lập tức rút còi phát tín hiệu, gọi thêm người trong thành.
To chuyện rồi.
“Sư phụ…” – A Tiềm nhíu mày nhìn Kiều Thích.
Kiều Thích kéo cương, không ngoái lại, chỉ đỡ ta đang nghiêng ngả, dịu giọng:
“Ngồi vững.”
Ngựa kéo chiếc xe gỗ cũ mòn, phóng như điên khỏi bến tàu, lao về phía con đường núi hẹp đầy hiểm trở.
…
Xe xóc nảy tới mức gan ruột như xoắn, ta chỉ cảm thấy bụng trào nước chua, chuyện truy binh, chuyện sống ch-ết đều ném hết ra sau — chỉ muốn ói cho thoải mái.
Thế nhưng… điều tệ nhất vẫn chưa tới.
Kiều Thích nghiêng người về phía ta, mùi đàn hương nhè nhẹ lan tỏa từ áo hắn.
Ta còn đang ngơ ngác…
Gió đỉnh núi rít qua khe, vách đá dựng đứng.
Hắn bất ngờ che mặt ta, dịu giọng:
“Đừng sợ.”
Sợ?
Còn có gì đáng sợ hơn hiện tại?
Ngay khoảnh khắc ấy, tiếng gió xé rít bên tai như dao cứa, Kiều Thích ôm lấy ta, nhảy khỏi xe…
Lao thẳng vào dòng sông cuồn cuộn, sâu không thấy đáy.
Trời ơi!
Mạng ta… đến đây là tận rồi!
8
Người đời thường nói, trước khi ch-ết sẽ thấy ký ức giống đèn kéo quân vụt qua trong trí óc.
Bởi thế, con người lúc ấy khó tránh khỏi lẩm bẩm khấn niệm, hoặc nhớ đến những người, những vật mình chẳng bao giờ có lại được.
Đệ đệ, muội muội ta trước khi ch-ết đói, gọi tên bánh bông hoa hoè mẹ từng làm.
Phụ mẫu khi hấp hối, lại nhớ đến các con.
Còn ta, lúc này ta nghĩ gì?
“Còn nghĩ gì được nữa, là tiền, tiền, tiền của ngươi đó!”
Giọng A Tiềm cáu kỉnh vang lên bên tai, lơ lửng như oan hồn.
Ch-ết rồi mà tên tiểu tử kia vẫn còn quấn lấy ta là sao?
Ta bực bội, khó nhọc mở mắt ra.
Bên dưới là tiếng nước róc rách, thuyền khẽ lắc lư, trên đầu ánh sao lờ mờ, gió đêm hiu hiu mát rượi.
Ồ, cảnh giới hoàng tuyền sao mà lại đẹp đến vậy?
Vài tiếng cười bật lên bên cạnh.
“Minh Quang sư phụ, nha đầu này thú vị thật đó.”
Ta choàng tỉnh, trừng to mắt.
Trước mặt là gương mặt ôn hòa của Kiều Thích, kế bên là một hán tử râu quai nón rậm rạp… À, và còn ánh mắt khinh khỉnh của A Tiềm.
Kiều Thích đưa tay sờ trán ta, hỏi nhỏ:
“Có đau ở đâu không?”
Ta ngơ ngác lắc đầu.
Nghe A Tiềm kể lại, thì ra nhảy xuống vực thoát thân vốn là chuyện cơm bữa với bọn họ.
Hôm ấy Kiều Thích nhận tin của Tôn tướng quân, biết cục diện đã thay đổi, nên tính sẵn để tướng quân đến tiếp ứng.
Không ngờ giữa chừng xuất hiện “biến số” là ta, tuy có chút kinh tâm động phách, nhưng cuối cùng cũng không lỡ việc lớn.
Ta đỏ mặt, tránh ánh nhìn của họ, cứ ngỡ sẽ bị trách mắng.
Không ngờ Kiều Thích lại nói:
“Đa tạ cô đã nghĩ đến bọn ta mà chạy về báo tin. Là ta liên lụy khiến cô rơi vào hiểm cảnh… chỉ e sắp tới khó lòng trở về quê nhà.”
Tôn tướng quân giơ ngón cái, cười ha hả:
“Tốt lắm cô nương! Biết cô đã cứu ai không? Hoàng tôn đấy, là công to đấy! Tương lai không sợ không có tiền đồ!”
Hoàng tôn kia mặt vẫn lạnh như tiền.
Ta thì chẳng lấy làm hào hứng, chỉ cúi đầu gãi móng tay.
Đột nhiên, A Tiềm lên tiếng lạnh tanh:
“Không cần tiền nữa à?”
Một túi bạc ướt sũng nặng trịch bị ném sang.
Ta mừng rỡ nhìn hắn.
Tôn tướng quân cười vang: “Chính tay hoàng tôn vớt lên cho cô đó.”
Ta quả thực vui hơn một chút.
A Tiềm quay mặt sang chỗ khác, lẩm bẩm:
“Vô dụng.”
Kiều Thích lặng lẽ ngồi bên, nhìn cảnh huyên náo trên thuyền, không nói gì.
Lúc đó ta còn chẳng biết, vì bảo vệ ta mà hắn trật cả một bên vai.
Đến khi ta hay tin, hắn đã âm thầm che chở ta chẳng biết bao lần rồi…
Nhưng… tất cả những điều ấy, là chuyện về sau.
…
Hiện tại, ta nằm trên chiếc thuyền nhỏ cô đơn, lòng mơ hồ bất định.
Trời biết lúc rời phủ Phí, ta đâu có ngờ bước chân mình sẽ dấn thân vào một con đường đầy chông gai như thế này.
Bị cẩm y vệ theo dõi, muốn quay lại cũng không còn đường lui.
Ta, tự khi nào, đã trở thành người cùng thuyền với họ.
Tôn tướng quân đưa chúng ta đến ẩn thân nơi một căn nhà hoang vắng không người.
Ta dần dần nghe được một ít chân tướng.
Hóa ra Tôn tướng quân là cựu thuộc hạ của Chiêu Càn Thái tử, còn Kiều Thích thời nhỏ từng được thái tử cưu mang khi tu hành trên núi Tử Vân, lần này hộ tống A Tiềm là để báo ân.
Những ân oán quyền mưu, đối với ta mà nói, thật xa xôi mơ hồ, như sương như khói.
Ta chỉ hiểu được một điều duy nhất:
Đã lên chiếc “thuyền tặc” này, muốn yên ổn sống tiếp, thì chỉ còn cách chờ đến ngày A Tiềm danh chính ngôn thuận đăng vị làm đế.
Nghe đến đó, ta chỉ thấy trời đất tối sầm.
Nếu như lời bọn họ nói là thật, thì cái ch-ết của Chiêu Càn Thái tử có liên quan đến đương kim hoàng đế Tuyên Đế.
Vậy thì, sao Tuyên Đế có thể bỏ con ruột mình mà lập một đứa mang huyết thống cừu hận tiền triều?
Tôn tướng quân nghe thấy nghi hoặc trong lòng ta, chỉ cười nhạt, rồi thắp ngọn đèn cũ dưới mái hiên.
Ánh sáng lồng lộng soi rõ gương mặt ông rắn rỏi cương nghị.
“Vậy nên,” Ông nói, “chúng ta không cần ngôi thái tử, mà cần ngai vàng.”
Ta suýt đánh rơi cả hàm:
“Tạo… tạo phản ư!?”
“Chậc, nói vậy khó nghe quá,” Tướng quân cười, như lẽ thường,
“Chúng ta chỉ đang lấy lại thứ vốn thuộc về Lý gia mà thôi.”
Là tạo phản còn gì nữa!
Sao số ta lại đen đủi đến thế này?
Vừa thoát hang sói, lại rơi miệng cọp, ngoài kia thiên hạ sao khó sống đến vậy?
Đang lúc ta mất hết hồn vía, Kiều Thích từ trong bước ra, trầm giọng:
“Tướng quân, đừng dọa nàng.”
Tướng quân cười cười, rời đi.
…
Kiều Thích đứng bên ta.
“Đợi khi cơn bão này qua đi, ta sẽ giúp cô đổi thân phận, đưa cô đi lánh tạm nơi phương Bắc.”
Hắn cúi đầu nhìn ta, mắt khẽ buồn:
“Yến Yến… là ta có lỗi. Vốn dĩ chỉ muốn giúp cô rời khỏi phủ Phí, không ngờ lại khiến cô vướng vào cuộc chiến này.”
Ta lắc đầu, người tính sao thắng nổi trời?
“Kiều ca ca, huynh chịu vì tình nghĩa thuở nhỏ mà giúp ta được tự do, ta đã rất biết ơn rồi. Chỉ là… ta vẫn thấy lạ. Đã lâu như vậy rồi, huynh làm sao biết ta ở phủ Phí?”
Mưa ngoài hiên rơi lất phất, trời xanh xám, ẩm ướt như mùa mưa ở Thị Châu.
Kiều Thích nhìn theo mưa rơi triền miên, khẽ đáp:
“Bởi vì… ta vẫn luôn đi tìm cô.”
Ta ngây người, lặng lẽ nhìn nghiêng gương mặt hắn…
10
Thuở còn nhỏ, ta và huynh ấy quả thực thân thiết.
Ta không có ca ca, vậy nên huynh ấy liền làm ca ca của ta.
Cái tên “Yến Yến” cũng là huynh ấy gọi.
Thế nhưng, năm ấy đất Thị Châu gặp lũ lụt, nạn đói càn quét, cướp đi sinh mạng cả nhà ta lẫn nhà huynh ấy.
Huynh đoạn tình thế tục, nương nhờ cửa Phật, đổi lấy một bao lương thực nhỏ cứu mạng ta, và một mối vương vấn chẳng nỡ buông tay.
Từ đó, tiểu nha đầu lưu lạc năm xưa đã trở thành nỗi bận lòng cả đời của huynh ấy.
Thế nhưng thời gian nơi Phật môn chẳng yên ổn được bao lâu, chỉ nửa năm sau, phong ba đoạt vị nổ ra tại núi Tử Vân.
Họa binh đột nhiên kéo tới, lấy đi sinh mệnh của vị từ sư.
Huynh còn non nớt, mới ngộ ra Phật pháp, đã bị cuốn phăng khỏi núi thiền, trở về hồng trần đầy loạn lạc.
“Sau đó, ta theo tướng quân Tôn, đưa hoàng tôn trốn khắp nơi. Trong một lần ghé lại Thị Châu, ta biết cha mẹ cô đã khuất, còn cô bị bán đi, nên vẫn luôn ghi nhớ trong lòng, đợi khi yên ổn sẽ tìm cơ hội chuộc cô ra.”
Kiều Thích cúi mắt, giọng trầm buồn:
“Không ngờ… lại để cô đợi lâu đến thế.”
Lòng ta như có tiếng sấm nổ, chưa từng nghĩ rằng… trên đời này, khi ngay cả cha mẹ đã không còn nhớ đến ta, vẫn có một người, ở nơi xa xăm nào đó, vẫn chưa từng quên ta.
Vậy mà trong mắt Kiều Thích, chuyện ấy chẳng phải đại ân gì lớn lao.
“Lẽ ra lúc này không nên vội chuộc cô, nhưng phủ Phí sắp tới e là chẳng còn bình yên. Phí Hoán không phải người có thể bảo hộ cô, ta chỉ đành mạo hiểm một phen.”
Phủ Phí… gặp nạn?
Sao có thể?
Trước khi ta rời đi, chẳng phải vinh hoa rực rỡ, quyền thế ngút trời đó sao?
Ta đang định hỏi thêm, thì A Tiềm bước tới, tay ôm một con bồ câu, nghiêm giọng thì thầm với Kiều Thích:
“Tin từ trong cung… bệnh của Tuyên Đế…”
Tiếng mưa lớn dần, lời sau A Tiềm cố ý hạ giọng, ta chẳng nghe rõ.
Việc lớn trước mặt, ta cũng không tiện xen lời.
Kiều Thích vào lại thư phòng, A Tiềm thì dẫn ta vào bếp giúp việc.
Chẳng bao lâu sau, trong phòng vang lên tiếng gắt gỏng:
“Gì chứ, đến nấu cơm cũng không biết, nhóm lửa cũng không xong? Rốt cuộc ngươi ở phủ Phí làm nha đầu hay làm tiểu thư vậy?”
Hắn cau mày, đẩy ta mặt mũi dính đầy tro ra một bên, tự mình lấy củi ướt, nhóm lại bếp lửa.
Đường đường là hoàng tôn, lẽ ra nên là bậc cao quý, xa cách khói bếp.
Vậy mà làm việc lại nhanh nhẹn hơn ta nhiều.
Hắn vừa nhóm lửa, vừa lầm bầm:
“Một a hoàn mà bị dưỡng đến mức yếu ớt ngây thơ thế này, không biết chủ tử ngươi là thương ngươi, hay là hại ngươi.”
Ngoài hiên, mưa hạ trút như thác.
Câu nói ấy khiến ta ch-ết đứng tại chỗ.
….
Căn nhà cũ ẩn sâu nơi sơn lâm, lặng lẽ như mưa rơi, chẳng biết bao giờ mới dứt.
A Tiềm là người quen ẩn nhẫn chờ thời, nhưng lúc này đã bắt đầu sốt ruột.
Người ngồi trên long ỷ đã không còn vững.
“Vì sao còn chưa ra tay?” A Tiềm đi qua đi lại, giẫm lên lớp lá trúc ướt át, vẻ mặt bực dọc.
“Chúng ta nhẫn nhịn đã đủ rồi! Trong cung có công công Chu, triều đình có các lão các, tướng quân Tôn đã sắp xếp đầy đủ. Chỉ cần sư phụ hạ lệnh, lập tức trời đổi sao dời, báo thù huyết hận cho phụ thân!”
Ta đang bưng trà đi qua, nghe vậy liền dừng bước, nấp sau cột hành lang.
Chỉ nghe A Tiềm nôn nóng nói với Kiều Thích:
“Chẳng lẽ vì sư phụ có người trong lòng, nên mềm lòng, không còn để tâm đến đại nghiệp nữa?”
Trong khay trà, nước khẽ dợn sóng.
Kiều Thích đứng tựa lan can, thân gầy áo xanh, cổ tay đeo chuỗi Phật châu đã mòn màu, gió mưa lay động vạt áo hắn.
“Đại nghiệp… là gì?” Giọng huynh nhẹ nhàng vang lên.
A Tiềm sững người, quả quyết:
“Tất nhiên là báo thù cho phụ thân! Diệt trừ những kẻ cướp ngôi, làm loạn triều cương, hại dân hại nước!”
Kiều Thích thở nhẹ:
“Vậy không tiếc bất cứ điều gì, là ngươi thực sự muốn giương cao cờ tạo phản, gi-ết thần diệt Phật, như Tuyên Đế năm đó?”
“Vì m-áu đổ không phải của mình, nên không đau lòng, đúng không?”
Huynh quay đầu, ánh mắt trong trẻo nhìn thẳng A Tiềm:
“A Tiềm, quyền thế làm mờ mắt người. Ngươi còn chưa bước ra bước đầu tiên, mà đã chẳng thấy rõ đường rồi.”
Mưa rơi như khói, màn nước phủ mờ trời đất.
Giọng Kiều Thích tuy nhẹ như tơ liễu, nhưng rơi vào lòng người lại nặng như ngàn cân.
Huynh ấy tiếp lời:
“Nếu ngươi ngồi lên ngôi báu, thì đã là minh quân rồi sao? Tuyên Đế năm đầu đăng cơ, cũng từng cần cù, tiết chế, vì muốn giữ danh tiếng ‘thánh minh’. Thế nhưng… mấy năm sau thì sao? Còn nhớ gì nữa chăng?”
“Ta không nghi ngờ bản tâm của ngươi. Nhưng A Tiềm, nói ta nghe, sau khi trả được thù, diệt được địch… rồi thì sao?”
A Tiềm cứng họng, không đáp được.
“Ngươi muốn làm hoàng đế vì muốn được tự do.
Ngươi tôn sùng phụ thân vì người cao quý vô song.
Nhưng ngươi có từng nghĩ… vì sao thiên hạ không chọn Anh Vương, mà lại đặt kỳ vọng vào ngươi?”
“Ngươi là huyết mạch của Chiêu Càn Thái tử, không sai. Nhưng… ngươi có thể trở thành người như ngài ấy không?”
Kiều Thích nói xong, lặng lẽ rời đi, lời hắn như roi mưa vụt qua người thiếu niên, khiến A Tiềm đứng chôn chân dưới hiên, chẳng thốt nên lời.
….
Sau rất lâu, chân ta đã tê mỏi, A Tiềm vẫn ngồi lặng thinh nơi bậc hiên.
Muốn quay về phòng, chỉ còn lối đi ngang chỗ hắn.
Ta còn đang chần chừ, hắn bỗng mở miệng:
“Ra đi, ta đâu có ăn thịt người.”
Ta bước qua, ngượng ngùng định biện giải rằng mình không nghe thấy gì cả, thì hắn lại vỗ vỗ bên cạnh:
“Ngồi xuống một lát đi.”
Đèn lồng lơ lửng trên đầu, ánh sáng nhè nhẹ mông lung.
Hắn hỏi vì sao ta đối với hắn luôn sợ hãi và xa cách hơn người khác.
Ta đáp:
“Vì ngài là hoàng tôn, là người ở trên cao.”
Giống như Phí Hoán vậy — dù ngoài mặt có thân thiện đến mấy, bản chất vẫn là kiêu ngạo không cho người trái ý.
Không ngờ lần này, vẻ cao quý ấy lại khiến hắn thêm phần bối rối.
…
“Yến Nhi, cô nói xem, thế nào mới là một vị vua tốt?”
Một câu hỏi quá lớn, khiến ta nghẹn lời.
Ta ngẫm nghĩ, với hiểu biết nông cạn của mình, chỉ biết trả lời:
“Ư… có thể khiến dân ăn no, mặc ấm, không phải bôn ba, không phải sống trong sợ hãi… là đủ rồi chăng?”
Cái đói hồi nhỏ, quả thực khiến người sống chẳng bằng ch-ết.
Vì thiên tai mà chẳng có triều đình trợ giúp, người dân như bèo trôi nước đẩy.
Ta nhớ hồi còn bé, Kiều Thích từng dạy ta một câu thơ:
“Thân thế bập bềnh… như mưa vỗ bèo.”
Ta nhớ ra, vỗ tay:
“Nếu là một minh quân, hẳn cũng nên có hiền thần biết lo cho dân như thế, có vậy trên dưới đồng lòng, ắt có ngày lưu danh muôn đời.”
Nói xong, ta chợt thấy xấu hổ.
Ta đâu có đọc bao nhiêu sách, mà dám luận chuyện thiên hạ…
Tưởng rằng A Tiềm sẽ như thường ngày cười cợt, ai ngờ hắn im lặng nhìn ta hồi lâu, rồi nghiêm túc nói:
“Ta đã xem nhẹ cô, Yến Nhi. Cô không phải người vô dụng.
Những gì ta từng nói, mong cô chớ để trong lòng.
Hôm nay, những lời sư phụ và cô nói, ta đều đã hiểu.”
Hắn như người vừa tỉnh mộng, khí sắc sáng láng, còn vỗ đầu ta một cái đầy thân thiết.
Còn ta, bị để lại một mình nơi hiên vắng, ngồi suy ngẫm mãi không thôi.
Chẳng hay… ta vừa nói điều gì mà giác ngộ lòng người như thế?
Lẽ nào… ta thật sự có tố chất làm nữ phu tử?
13
Kiều Thích vốn chẳng định cả đời ẩn nhẫn như vậy. Tuyên Đế bệnh nặng, cơ hội cuối cùng đã tới.
Nhưng cùng lúc đó, hoạn quan Hồng Trung cũng càng thêm cảnh giác, lưới trời càng siết chặt.
Ta chẳng hiểu đạo lý to lớn gì, nhưng có một hôm, nghe được cuộc đối thoại giữa Kiều Thích và tướng quân Tôn, lòng ta bỗng như sáng thêm đôi chút.
“Gặp được thời thế, chẳng nhất thiết phải sát phạt tàn khốc mới là anh hùng.”
Tuyên Đế đã sắp tàn hơi, lòng dân trong triều chia rẽ, việc phò tá hoàng tôn đăng vị chỉ là chuyện sớm muộn.
Nhưng ngôi báu ấy, phải được thiên hạ thừa nhận, danh chính ngôn thuận mới là đạo.
Chỉ cần một cơn phẫn nộ, máu chảy thành sông, xác chất thành núi.
Khi ấy, lòng người cũng chẳng còn.
Phải dụng mưu, khiến kẻ địch trong lúc đắc ý nhất, ngã ngựa trong chớp mắt, lấy tổn thất ít nhất, thắng lợi lớn nhất.
Lời huynh nói cao thâm, có đoạn ta không lĩnh hội nổi, chỉ thấy trong mắt tướng quân Tôn ánh lên sự khâm phục.
Họ còn bàn chuyện bố binh, chia đường hành động. Ta nghe đến mơ màng, hồn đã lạc tận mây xanh.
Tướng quân Tôn rời đi đã lâu, ta mới bừng tỉnh.
Một chén trà đưa đến trước mặt. Kiều Thích mỉm cười:
“Nghĩ điều gì vậy?”
Ta mím môi nhận lấy, trà ấm nhưng đượm vị đắng.
Thực lòng ta muốn hỏi, vì cớ gì huynh ấy mang dáng vẻ như Gia Cát tiên sinh, phong lưu túc trí, chỉ tay định càn khôn, mà sao lại trông buồn đến vậy?
Nhưng ta không hỏi, sợ mình nghĩ quá xa.
Mà huynh ấy lại tưởng ta buồn vì sắp sửa cải danh đổi phận, một mình lên đường đến phương Bắc.
“Có sợ không?” Huynh ấy hỏi.
Bảo không sợ thì là nói dối. Ta cúi đầu, khẽ gật.
Kiều Thích cười nhạt, bảo ta ngẩng đầu nhìn trời.
Ta chẳng hiểu gì, nhưng vẫn làm theo.
Hiếm hoi có một ngày trời không mưa.
Màu trời thanh sạch như ngọc, không mây không gió, ranh giới rộng mênh mông như một tấm gương nước bao phủ nhân gian.
Giọng Kiều Thích nhẹ như gợn sóng:
“Yến Yến, khi muội rời khỏi nơi an nhàn êm ấm ấy, có thể sẽ gặp gió tanh mưa m.áu, lạc vào hiểm địa, chạm mặt lang sói.”
“Những ngày tháng về sau, có thể sẽ phải lê bước trong bùn m.áu, mệt mỏi rã rời, cả khi chân đầy vết thương cũng chẳng thể ngừng đi.”
“Thậm chí… có lúc phải cầm lấy đao kiếm, mở ra một con đường sống.”
“Nhưng… muội vẫn phải bước ra.”
“Bên ngoài kia là thế gian rộng lớn. Nơi ấy chẳng vì muội là nữ nhi yếu đuối mà nhân nhượng.
“Nhưng cũng chính nơi ấy… rộng lớn tới mức đủ để muội sánh cánh cùng ưng, bay khắp cửu thiên.”
Giữa tầng không, một con én nhỏ cánh mảnh vụt lên, xé gió bay cao.
Ta ngây người nhìn theo.
Trước lúc chia tay, Kiều Thích tựa như huynh trưởng, cẩn thận dặn dò từng lời, còn nhẹ tay buộc lại dải lụa đỏ lỏng lẻo bên tóc ta.
Khác đường, thì chẳng thể đồng hành.
Nhưng lòng bận lòng… vẫn chưa từng đổi thay.
Huynh nhìn ta rất sâu, tựa như năm xưa ta từng ngây ngốc tiễn huynh ấy xuống núi.
“Lần này… đã đi, thì đừng quay đầu nữa, hiểu không?”
Từng câu, từng chữ, rơi vào tim ta như tiếng chuông vọng giữa đêm sâu. Cảm giác chẳng lành dâng lên trong lòng.
Huynh lại lặp lại lần nữa,như thể ta là đứa trẻ hay thất hứa, nhất định phải có sự cam đoan.
Vậy nên ta chỉ đành gật đầu, hứa với huynh ấy rằng: Ta sẽ luôn bước về phía trước.
…
Hôm ấy, chúng ta chia hai ngả.
Canh ba, Kiều Thích và A Tiềm lên một thuyền, còn ta cùng tướng quân Tôn lên thuyền khác, xuôi về bến.
Ta biết, bọn họ sắp ra tay rồi.
Thuyền đi song song một đoạn, qua khỏi Hổ Loan thì chia ra.
Trăng tròn treo cao như ngọc bích, ánh sáng rải xuống sông, sóng nước lung linh, lau sậy nghiêng ngả trong gió.
Ta nhìn sang thuyền của Kiều Thích nơi xa.
Tướng quân Tôn cười trêu:
“Chưa đi bao xa đã không nỡ xa rồi, Yến Nhi quả thật là tiểu nha đầu dính người!”
Ta ngượng quá, vội che mặt: “Xin tướng quân đừng chọc ta nữa.”
Tướng quân cười ha ha, thuyền vẫn lặng lẽ xuôi dòng.
Bỗng nhiên… trong gió thoảng đến mùi khét nồng của hỏa dược.
Lòng ta chấn động.
Trăng bị mây che phủ, bốn bề lặng như tờ.
Ta còn chưa kịp định thần, bản năng liếc nhìn về phía chiếc thuyền phía trước.
ẦM!
Một tiếng nổ long trời.
Tia lửa đỏ chói vút lên như rồng lửa xé màn đêm.
“Nhảy mau!” Một lực mạnh đẩy ta ngã vào sông.
Cùng khoảnh khắc ấy, chiếc thuyền ta đang ngồi cũng… nổ tung.
Tai ta ù đặc, mũi miệng ngập nước, khói đen, mảnh gỗ nóng rơi lả tả quanh thân.
Dòng sông… đỏ như địa ngục.
Ta vùng vẫy bơi vào bụi lau, vừa ngoi lên thở gấp, đã thấy khói lửa bốc mịt mù phía xa.
Tim ta như bị bóp nghẹt.
Kiều ca ca…!
Cẩm y vệ trong bóng tối xuất hiện, đang lục soát khu vực quanh thuyền.
Ta chợt nghe tiếng rên khe khẽ bên tai.
Dưới bùn, là tướng quân Tôn đã cứu ta.
“… Tướng quân.”
Ta gọi khẽ.
Không có hồi âm.
Ta cắn răng, cưỡng ép bản thân phải đứng vững. Không được nhìn lại phía sau. Phải trốn đi ngay.
Bọn cẩm y vệ sẽ sớm tìm tới đây.
Ta muốn dìu tướng quân đi, nhưng chân bị thương, hoàn toàn không có lực.
Trong cơn tuyệt vọng, ta nghiến răng, rút dao bên hông tướng quân, tự đâm vào đùi mình.
Máu phun ra ào ạt, đau thấu xương tủy.
Nhưng chính nhờ cơn đau ấy… ta lấy lại được chút sức lực.
Bọn cẩm y vệ tới gần, có cả chó theo dấu.
Ta nhìn quanh, thấy đám lau rậm rạp và một gò đất lồi lõm phía sau.
Ta lôi tướng quân vào khe đất khuất, kéo cỏ phủ bên ngoài.
Còn bản thân thì ngậm hơi, chìm xuống vũng bùn nước.
Bùn đất cùng khói súng che mùi m.áu tanh.
Đám truy binh đi qua mà không phát hiện.
“Gió lớn như vầy, chắc trôi xuống hạ lưu rồi.” Là giọng của tên cẩm y vệ trẻ.
“Hoàng tôn với hòa thượng ở thuyền kia, ở đây chắc là a hoàn thôi, bỏ đi cũng chẳng sao.”
Tên kia gắt:
