Ngọc Bích - Chương 2
Sáng hôm sau, tỉnh dậy trong vòng tay hắn, Từ Hạc Thư đã từ lâu lặng lẽ nhìn ta.
Gặp ánh mắt ta, hắn nhẹ nhàng cong môi cười:
“A Ngọc, chúng ta thử làm một đôi phu thê bình thường, có được chăng?”
Ánh mắt hắn sáng rực:
“Ta nghĩ, về sau nhất định sẽ rất thích nàng.”
Hắn nói “về sau”, “nhất định sẽ thích ta”.
Ta không dám mong cầu quá nhiều.
Chỉ cầu…
Chỉ cần một chút, dù chỉ một chút tình ý với ta, cũng đã đủ rồi.
Nhưng đến hôm nay, ba năm sau, khi ta biết hắn vẫn chưa quên được đại tỷ của ta…
Lòng ta, lại còn đau hơn cả đêm thành thân ba năm trước.
3.
Ba ngày sau, Từ Hạc Thư khỏi bệnh.
Hắn đến viện ta, khi ấy ta đang ôm mèo con, thẫn thờ tựa cửa sổ chạm trổ hoa văn.
Dường như chẳng có gì xảy ra, hắn vẫn như mọi khi, từ phía sau vòng tay ôm lấy ta, dịu dàng hỏi:
“Sao nàng trông buồn bã vậy? Ai đã khiến A Ngọc của ta không vui?”
Ta không nói gì, chỉ quay đầu nhìn hắn.
Hắn khựng lại, rồi bật cười:
“Là ta làm nàng giận ư?”
Chưa đợi ta đáp, hắn đã bế mèo con ra đặt xuống đất, rồi bế ta ngồi xuống cạnh án thư.
Hắn vén tà váy ta lên tới đầu gối, thấy rõ vết bầm đỏ sưng tấy kia, liền chau mày:
“Dạ Vu nói hôm ấy nàng đi gấp quá, không cẩn thận bị va vào.”
Ta giơ tay ra hiệu: “Đã thoa thuốc rồi.”
Từ Hạc Thư cúi người, khẽ thổi vào chỗ đau, đầu ngón tay ấm áp chạm nhẹ lên làn da sưng tím.
Hồi lâu, hắn liếc nhìn ra ngoài cửa sổ:
“Nếu đêm nay trời không mưa, cùng đi thả hoa đăng nhé?”
Ta luôn là kẻ dễ dàng thỏa mãn.
Khóe môi bất giác cong lên, nhẹ gật đầu.
…
Chẳng bao lâu sau, ta và hắn như trở lại ngày xưa.
Hắn nắm tay ta đến thư phòng.
Giống như thường nhật, hắn xử lý công vụ bên án thư, còn ta ôm mèo con ngồi yên một góc, khi thì xem y thư, lúc lại bế mèo lên, khoe hắn cái bụng tròn lẳn của nó.
Từ Hạc Thư là người nhẫn nại nhất ta từng gặp, ngoài nhị ca của ta ra.
Khi ta gả đến phủ, ngoài hồi môn, chỉ mang theo một con mèo nhỏ.
Khác với phụ mẫu ghét bỏ mèo, hắn còn cố ý mời người thông hiểu thói quen mèo đến chỉ dạy, tự mình ghi chép cẩn thận từng điều nhỏ nhặt.
Hắn cùng ta dựng chuồng mèo ở trong phủ, lại tự tay câu cá trong hồ đem nấu cho mèo ăn.
Đông ở kinh thành lạnh giá, thấy ta may áo cho mèo, hắn cũng cầm lấy kim thêu.
Tay vụng về, lúng túng mãi mới hoàn thành được một bộ.
Dù hình thêu méo mó, mèo cũng chẳng thèm mặc, hắn vẫn vuốt đầu nó, tỏ vẻ trẻ con mà nói:
“Cha may cho con đó, xấu cũng phải mặc!”
Ba năm trôi qua, mèo con sống an nhàn trong phủ, mập mạp ra không ít.
Giờ phút này, Từ Hạc Thư nhìn ta, bật cười:
“Tại nó tham ăn, lại lười như chủ.”
Hắn xoa bụng mèo, cười nói:
“Mèo lười, giống hệt mẫu thân ngươi.”
Ta trừng mắt lườm hắn, tỏ ý kháng nghị.
Hắn liền nhéo má ta, cười nhẹ:
“Ta nói sai ở đâu nào?”
“Bình thường rủ nàng ra hồ cũng bảo nóng, chẳng chịu đi.”
Ta vừa muốn phản bác, thị nữ liền gõ cửa thư phòng, cung kính tiến tới, dâng lên một phong thư:
“Phu nhân, là thư của Thôi phu nhân gửi đến.”
4.
Ta mở thư mẫu thân gửi, đọc hồi lâu rồi xếp lại cất vào tay áo.
Từ Hạc Thư đang chơi với mèo, thuận miệng hỏi:
“Nhạc mẫu có việc gì gấp?”
Ta ngẫm một chút, giơ tay ra hiệu:
“Mẫu thân nói tỷ tỷ A Quỳnh mấy ngày trước phát bệnh, bảo ta lập tức về thăm.”
Ánh mắt Từ Hạc Thư khựng lại, nhưng liền khôi phục thần sắc như thường.
Ta hỏi hắn:
“Chàng… có đi không?”
Nửa tháng trước, đại tỷ từ Giang Nam trở về kinh, mẫu thân đã gửi thư mời ta về đoàn tụ.
Khi ấy ta cũng hỏi hắn, hắn đáp nhanh:
“Không đi.”
Hôm nay, hắn vẫn như thế:
“Ta còn việc công chưa xong, không thể theo cùng.”
Sau đó dặn dò thị nữ, lệnh nàng chuẩn bị xe ngựa.
Đến phủ nhà họ Thôi, phụ mẫu đã đứng chờ sẵn ngoài cửa.
Ta vừa bước xuống xe, mẫu thân đã nhìn vào trong, như đang chờ đợi điều gì.
“A Ngọc, Hầu gia đâu rồi?”
Mẫu thân không hiểu thủ ngữ, ta bảo thị nữ chuyển lời.
Thị nữ hành lễ rồi thưa:
“Thưa phu nhân, Hầu gia hôm nay bận chính sự, không thể đến được.”
Nghe xong, sắc mặt mẫu thân hơi trầm lại.
Phụ thân liền nói xen vào:
“Bên ngoài trời lạnh, vào trong rồi nói.”
Cả đoàn người tiến vào phủ.
Sắp đến chính sảnh, nơi hành lang dưới mái hiên, đại tỷ khoác áo lông, đứng đó ngóng trông xa xăm, đưa tay che miệng ho khẽ.
“Sao còn đứng đây mà dầm gió?”
Mẫu thân vội bước tới, trách mắng:
“Ta dặn bao nhiêu lần rồi, thân thể yếu không được đón gió! Đám nha hoàn các ngươi không nghe thấy hay sao?”
Đám nha hoàn hoảng loạn quỳ xuống nhận tội.
Đại tỷ cười nũng nịu kéo tay mẫu thân:
“Mẫu thân đừng trách họ, là con tự mình muốn ra đây.”
Mẫu thân thở dài bất lực, đưa tay điểm nhẹ trán nàng:
“Con đó…”
Đại tỷ cười nép vào lòng mẫu thân, chợt thấy ta liền nắm lấy cổ tay ta, bàn tay nàng lạnh như băng:
“Hầu gia không đến ư?”
Ta khẽ lắc đầu.
Ý cười nơi khóe môi nàng thoáng dừng lại, rồi nhanh chóng kéo ta về hướng viện của nàng:
“A Ngọc, mấy hôm trước ta phát bệnh, thân thể vẫn còn chưa khoẻ, hôm nay nàng phải giúp ta xem mạch một phen.”
Đại tỷ đuổi tất cả nha hoàn ra ngoài, chỉ còn hai tỷ muội đối diện ngồi cùng một phòng.
5.
Trong phòng tĩnh lặng, chỉ có tiếng gió tuyết ngoài khung cửa.
Ta cúi đầu bắt mạch cho đại tỷ.
Nàng đột nhiên cất tiếng, giọng điệu nửa cười nửa chế giễu:
“Làm kẻ trộm, cảm giác thế nào? Dễ chịu lắm sao?”
Ta ngẩng đầu, tỏ vẻ không hiểu mà nhìn nàng.
Nàng chậm rãi nói từng chữ một, giọng khẽ khàng:
“Nhân lúc ta không có ở đây, ngươi lặng lẽ đánh cắp phụ thân, mẫu thân, và cả Hạc Thư ca ca.”
Tim ta chùng xuống, ta không tin nổi, vội vàng lắc đầu.
Nàng lại nói:
“A Ngọc, ngươi chính là một tên trộm.”
Ta đứng phắt dậy, giơ tay phản đối:
“Ta không phải!”
Do động tác quá mạnh, chén trà trên án rơi xuống đất, vỡ thành mảnh vụn, vang lên một tiếng chát chúa.
Đại tỷ mặt không đổi sắc, dõi mắt nhìn ta, tiếp lời:
“Giờ thì ta đã trở về.”
“Về sau… sẽ không còn ai yêu ngươi nữa.”
Nàng bước lại gần, thì thầm bên tai ta:
“Thật là đáng thương.”
“Nếu là ta, thà ch-ết đi còn hơn sống thế này.”
Ta đẩy mạnh nàng ra, gằn từng chữ:
“Ta không đáng thương!”
“Ta không cần thương hại!”
Ta vung tay, ra sức ra hiệu.
Nhưng ánh mắt nàng chỉ đầy vẻ trêu chọc, như đang nhìn một kẻ điên không hiểu nhân tình thế sự.
Ta bỗng khựng lại.
Mới sực nhớ ra — đại tỷ không biết thủ ngữ.
Cơn giận dữ không thể thốt thành lời, chỉ hóa thành những cử chỉ vô nghĩa trong mắt nàng.
Ta chỉ như một trò hề trong ánh mắt ấy.
Nỗi bất lực như sóng ngầm tràn lên lồng ngực.
Ta kéo cửa, chỉ muốn rời khỏi nơi này càng nhanh càng tốt.
…
Ngoài trời chẳng biết từ khi nào đã lất phất tuyết rơi.
Ta cứ thế bước đi giữa gió lạnh, để tuyết và gió cào qua má, qua tim.
Bất ngờ va phải ai đó, đầu mũi đau nhói.
Một tấm áo khoác ấm áp phủ lấy ta, là Từ Hạc Thư.
Hắn dịu dàng nắm lấy tay ta, bàn tay ấm áp truyền đến hơi ấm.
Ta ngẩng đầu, ngơ ngẩn nhìn hắn, rồi ra hiệu:
“Sao chàng đến đây?”
Từ Hạc Thư nâng khuôn mặt lạnh buốt của ta lên, khẽ nhướng mày cười:
“Tuyết rơi rồi. Ta sợ thê tử nhiễm lạnh, nên đến đón nàng hồi phủ.”
Lời vừa dứt, mũi ta bất giác cay xè.
Hắn cúi nhìn ta, mỉm cười:
“A Ngọc vì ta mà cảm động đến muốn khóc rồi sao?”
Hắn vươn tay, định lau lệ cho ta—
Thì tiếng gọi phía sau vang lên:
“Hạc Thư ca ca.”
Tay hắn khựng lại giữa không trung.
Đại tỷ bước đến, tuyết rơi lấm tấm trên tóc mai nàng, càng khiến vẻ bệnh tật thêm phần yếu đuối đáng thương:
“Hạc Thư ca ca, hôm đó chàng không chịu gặp ta, là còn giận ta sao?”
Từ Hạc Thư nhẹ nắm lấy tay ta, lạnh lùng nói:
“Giờ ta đã thành thân với A Ngọc, cô nương nên xem ta là muội phu mới phải.”
Lời hắn thốt ra, không hề giữ chút tình cảm.
Vẻ đau buồn trên mặt đại tỷ hiện rõ, nàng cúi đầu, nhẹ giọng đáp:
“Được.”
Từ Hạc Thư mặt vẫn lạnh băng, nhưng tay hắn nắm lấy tay ta thì lại càng siết chặt hơn.
6.
Có lẽ vì nghe nói Từ Hạc Thư đến, phụ thân vội vã tìm đến, bảo tiền sảnh đã chuẩn bị cơm canh.
Bữa cơm vô cùng tĩnh lặng.
Trong lúc dùng bữa, đại tỷ vô tình đánh rơi một bát sứ, vội cúi người nhặt, nhưng bị mảnh sứ vỡ cứa vào tay, đành rời tiệc vào nội thất xử lý.
Đến lúc tiệc tàn, ta cùng Từ Hạc Thư định rời đi, thì mẫu thân gọi ta lại:
“A Ngọc, theo ta một chuyến, ta có lời muốn nói.”
Bà đưa ta đến tịnh phòng.
Ta nhớ, mẫu thân xưa nay ít khi gọi ta vào trò chuyện riêng.
Ngay cả ngày ta thay đại tỷ xuất giá, bà cũng chỉ dặn phải hiền lương thục đức, giữ đạo làm vợ.
Nhưng ta biết rõ — ba năm trước, khi đại tỷ bỏ đi, bà đã khóc đến mất ăn mất ngủ suốt một tháng.
Đến khi hay tin đại tỷ ở Giang Nam, bà còn suýt ngất đi.
Nếu không phải đại tỷ sau đó cách nửa tháng lại gửi thư về, chắc mẫu thân đã dẫn cả nhà dọn về Giang Nam từ lâu.
Bà chẳng nỡ rời xa đại tỷ, càng không đành lòng để đại tỷ chịu khổ.
Giờ đây, bà nhìn ta bình thản nói:
“A Ngọc, con đã thay tỷ tỷ giữ vị trí ấy ba năm. Giờ nên trả lại cho nó rồi.”
“Trả lại Hầu gia cho A Quỳnh đi.”
Ta lặng người.
Tại sao ngay cả mẫu thân sinh ra ta cũng cho rằng… thứ ta có hôm nay vốn không nên thuộc về ta?
Chẳng lẽ chỉ vì đại tỷ quay về, nàng liền xứng đáng được có tất cả sao?
Ta rất muốn hỏi.
Còn ta thì sao?
Ta ngẩng tay ra hiệu, dù biết bà không hiểu hình ngữ, vẫn cố gắng nói:
“Con… cũng là con gái của mẫu thân kia mà?”
Mẫu thân chỉ nói:
“Ba năm trước, Hầu gia đã thích A Quỳnh. Con chẳng qua giống nó, hắn e là vẫn luôn xem con như cái bóng của tỷ tỷ.”
Ta cắn chặt môi đến bật m-áu.
Không phải như thế.
Trong mắt Từ Hạc Thư, ta là A Ngọc, không phải ai khác.
Ta lắc đầu, cố gắng ra hiệu rõ ràng:
“Con không đồng ý.”
Mẫu thân nhíu mày, muốn nói thêm điều gì.
Ta vội cúi người thi lễ, rồi mở cửa bước nhanh ra ngoài.
Nhưng vừa đến cửa, cảnh tượng trước mặt khiến lòng ta như bị dao khoét.
Dưới hành lang, đại tỷ đang ôm chặt Từ Hạc Thư, khóc nức nở:
“Ta chỉ muốn, trước khi thành thân, được nhìn thấy sự phồn hoa của nhân thế. Ta cứ nghĩ… cứ tưởng chàng sẽ chờ ta.”
“Hạc Thư ca ca, là ta sai rồi… tha thứ cho ta, được không?”
Từ Hạc Thư muốn đẩy nàng ra. Nhưng nước mắt nàng như làm mềm lòng hắn.
Hắn buông tay, thở dài:
“A Quỳnh, đừng khóc nữa.”
“Ta tha thứ cho nàng rồi.”
Ta cúi đầu nhìn nền đá dưới chân, nơi ấy mờ mịt trong nước mắt.
Trong lòng ta… chua xót đến muốn òa khóc.
Thật dễ dàng làm sao…
Ta gần như độc ác mà nghĩ: Đã rời đi rồi, vì sao còn quay về?
7.
A Ngọc là kẻ nhát gan.
Ngay cả nửa bước tiến lên, ta cũng chẳng dám bước.
Dường như chỉ cần ta bước tới, mọi thứ trong tay sẽ rời khỏi ta vĩnh viễn.
Ta xoay người, men theo lối nhỏ rời khỏi Thôi phủ.
Xe ngựa hồi phủ Hầu gia đã chờ sẵn nơi cổng.
Chỉ một khắc sau, phụ mẫu cùng A Quỳnh tiễn Từ Hạc Thư ra cửa.
Hắn trông thấy ta đứng trước xe, liền sải bước lại gần.
Cảm nhận được tay ta lạnh buốt, hắn nhíu mày:
“Trời lạnh thế sao không vào xe chờ?”
Nói rồi, hắn đỡ ta lên xe.
“A Ngọc.” Đại tỷ khẽ gọi ta.
Nàng mỉm cười đưa cho ta một bùa bình an, nói là đã xin từ một ngôi cổ tự nổi tiếng ở Giang Nam.
Thừa lúc Từ Hạc Thư trò chuyện cùng phụ thân, nàng ghé sát tai ta, giọng thấp như gió lạnh:
“Nếu muội còn chưa cam tâm, thì cứ chờ xem, ta sẽ cho muội biết, ta ở trong lòng Hạc Thư ca ca là quan trọng thế nào.”
Nói đoạn, nàng lùi lại, mặt mày vẫn mang sắc bệnh nhưng cười tươi tắn, nhã nhặn:
“Một mình ta cũng buồn tẻ, nếu A Ngọc và Hạc Thư ca ca có thể thường lui tới phủ thì tốt biết mấy.”
Phụ mẫu bật cười:
“Hầu gia bận trăm công nghìn việc, đâu thể như con suốt ngày rong chơi?”
Đại tỷ chỉ tinh nghịch chớp mắt. Ta siết chặt bùa bình an trong tay, khớp ngón tay trắng bệch.
…
Trên đường về, tuyết phủ kín lối, xe ngựa chậm rãi lăn bánh.
Thường ngày nếu đường xa, Từ Hạc Thư luôn để ta tựa vào lòng hắn mà ngủ một giấc.
Hôm nay cũng thế. Hắn ôm ta, nhẹ giọng nói:
“Ngủ một chút thôi, đến nơi ta gọi nàng.”
Mùi hương trên áo hắn là loại đại tỷ thường dùng.
Ta khẽ giãy ra khỏi vòng tay hắn.
Hắn hỏi:
“Sao vậy?”
Ta nhìn hắn, tay chân run rẩy, lạnh đến thấu xương.
Hồi lâu sau mới ra hiệu:
“Vừa rồi A Quỳnh gọi chàng là Hạc Thư ca ca, vì sao chàng…”
Hắn giữ lấy tay ta, đáp:
“Nàng từng gọi thế quen miệng, khó bỏ ngay được. Cứ kệ nàng ấy đi.”
Hắn siết tay ta chặt hơn.
Thật sự… chỉ là vậy sao?
Ta từ từ rút tay lại, quay lưng về phía hắn.
Không khí trong xe đông cứng lại.
,,,
Lúc mới thành thân, Từ Hạc Thư từng nói ta tính khí trẻ con.
Hắn bảo, nữ nhi vốn nên có chút nũng nịu, muốn ta biết giận dỗi với hắn.
Hắn thậm chí cố ý trêu ta để ta tức giận.
Ban đầu ta luôn là người đầu hàng trước, chủ động làm hòa.
Chỉ vì trong lòng luôn tin rằng, trừ nhị ca ở biên cương xa xôi, chẳng còn ai đủ kiên nhẫn bao dung ta như thế.
Nếu ta không nhanh chóng cúi đầu, có lẽ sẽ mất hắn mãi mãi.
Thế nhưng khi ấy, Từ Hạc Thư lại nói:
“Người yêu nàng, sẽ luôn ở phía sau nàng.”
“Sau này có ta che chở, nàng cứ làm chính mình, dù đúng hay sai, A Ngọc cũng không cần là người cúi đầu trước.”
Vậy mà giờ đây, ta lại giận hắn.
…
Cả đoạn đường, xe lặng như tờ.
Ta nghe được cả nhịp thở khe khẽ của hắn phía sau.
Cho đến lúc xe dừng trước cổng phủ, hắn vẫn không lên tiếng, ta cũng không quay đầu.
Đến bữa tối, Dạ Vu nói Hầu gia đang ở thư phòng xử lý công vụ, không thể dùng bữa.
Ta ăn một mình cả mâm cơm.
Nha hoàn có lẽ cũng nhận ra sự khác lạ giữa ta và Từ Hạc Thư.
Tối ấy, sau khi ta tắm gội xong, ôm mèo ngồi bên cửa sổ ngắm trăng, nàng cười nói:
“Chỉ còn ba ngày nữa là đến sinh thần của phu nhân. Hầu gia chắc lại bận chuẩn bị quà như mọi năm.”
Sinh thần…
Ta cụp mắt, khẽ cười.
Trước khi ngủ, ta bỗng nhớ lời Từ Hạc Thư từng hứa ban ngày:
“Nếu đêm nay không mưa, chúng ta cùng đi thả hoa đăng.”
Ta khoác áo, cầm đèn lồng, bước ra ngoài.
Thư phòng đã tắt đèn, có lẽ là hắn đã nghỉ ngơi.
Gió lạnh từ hồ lướt tới, ta rùng mình.
Ta nhẹ nhàng đặt hai ngọn hoa đăng xuống mặt nước.
Nhìn chúng trôi đi mãi không quay đầu, lòng ta vẫn chưa vơi được nỗi uất nghẹn.
Ngày trước, dù có giận hờn, ta và Từ Hạc Thư chưa từng giận nhau qua đêm.
8.
Đêm ấy, ta ngủ chẳng yên, ác mộng triền miên đến tận sáng.
Nha hoàn bảo Hầu gia đã vào triều từ sớm, lại lo lắng nhìn ta:
“Phu nhân sắc mặt kém quá, chẳng lẽ nhiễm phong hàn rồi?”
Ta lau mồ hôi lạnh trên trán, bảo nàng theo đơn ta kê mà sắc thuốc.
Uống xong, ta lại thiếp đi.
Đến khi tỉnh, ngoài trời đã tối đen.
Ta chạm tay, chỉ thấy mèo con tròn trịa dụi vào lòng bàn tay ta.
Nha hoàn nghe động, bước vào hỏi han.
Ta gật đầu, hỏi:
“Hầu gia… có đến không?”
Nàng lưỡng lự đáp:
“Hầu gia… ban ngày có ghé qua một lần, thấy phu nhân ngủ, liền không làm phiền.”
Vậy tức là… hắn không có đến.
Ta ôm mèo, ngủ thêm một giấc.
….
Sáng hôm sau, nha hoàn vui mừng gọi ta dậy:
“Phu nhân, Dạ Vu vừa sai người đến nói—Hầu gia đang chờ ở lầu Thính Nguyệt, mời phu nhân đến mừng sinh thần!”
Bị kéo tới trước gương đồng chải đầu, ta mới sực nhớ hôm nay là sinh thần của ta.
Nàng chọn cho ta một bộ xiêm y rực rỡ:
“Hầu gia thích phu nhân mặc bộ này nhất. Mỗi lần nhìn thấy, đều không rời mắt được.”
…
Xe ngựa đưa ta đến lầu Thính Nguyệt. Chưởng quầy thấy ta liền dẫn ta lên lầu ba.
Ông ta nói, Hầu gia đã đặt trước nơi này từ một tháng trước, hôm nay chỉ có ta và hắn nơi đây.
Rồi lặng lẽ lui xuống.
Ta đứng ngoài cửa, bình tâm lại, giơ tay định đẩy cửa—
Thì nghe giọng đại tỷ vọng ra:
“Hạc Thư ca ca, trong lòng chàng vẫn còn A Quỳnh đúng không?”
Tay ta khựng lại giữa không trung.
“Chàng thích A Ngọc, chẳng qua là vì A Ngọc giống ta.”
“Giờ ta đã trở về, chàng không cần đối mặt với cái bóng thay thế nữa.”
Giọng nàng mềm mại, quyến luyến:
“Hạc Thư ca ca, A Quỳnh…”
Một lúc sau, ta nghe Từ Hạc Thư khàn giọng nói:
“A Quỳnh…”
Rồi là tiếng vải áo lạo xạo.
Ta gần như hoảng loạn mà bỏ chạy.
Chạy quá nhanh, thị nữ đợi trước lầu cũng không kịp nhìn thấy.
…
Chạy đến một con hẻm vắng, ta không kiềm được mà nước mắt trào ra.
Mọi cảm xúc đè nén ứ lại trong lồng ngực, nghẹn đến mức khó thở.
Ta gắng sức đập vào ngực mình, nơi đó… đau lắm.
Không rõ mình đã khóc bao lâu, chỉ biết ánh nắng ngoài trời dần tắt.
Ta tựa đầu vào gối, nắm tay mà chẳng còn sức.
Mệt mỏi lạ thường.
Tựa như… mọi thứ ta cố giữ gìn, chưa từng thuộc về ta.
9.
Khi ta trở về Hầu phủ, vừa vặn gặp được Dạ Vu.
“Phu nhân, người rốt cuộc cũng trở lại rồi! Hầu gia tìm người đến phát cuồng rồi kia!”
Chỉ chốc lát sau, Từ Hạc Thư nghe tin ta đã hồi phủ, lập tức vội vàng chạy về.
Vừa thấy ta, hắn liền bước tới, mạnh mẽ ôm chầm lấy ta vào lòng:
“A Ngọc, nàng đi đâu rồi?”
Giọng hắn run rẩy, khàn khàn, môi lạnh áp sát tóc mai ta, gọi tên ta từng tiếng.
Tựa như… sợ mất ta lần nữa.
Ta đẩy hắn ra, giơ tay ra hiệu, ánh mắt bình tĩnh:
“Ta muốn… hoà ly.”
Từ Hạc Thư sững người, thẫn thờ lặp lại:
“Vì sao?”
Ta mím môi.
Bởi vì A Ngọc… đã không thể tự lừa mình dối người thêm nữa rồi.
Hóa ra, tình yêu là thứ không thể cưỡng cầu.
Dù ta có cố chấp đến đâu, có vì hắn mà làm bao nhiêu điều, cũng không thể che lấp được một sự thật:
Tình yêu ta có, chỉ là một thứ được ban phát, nên giữ lấy nó… mỏi mệt quá rồi.
Ta chỉ vào ngực mình, chậm rãi ra hiệu:
“Bởi vì ở cạnh chàng, nơi này… đau lắm.”
….
Từ Hạc Thư nắm lấy tay ta.
Ngày thường, tay hắn luôn ấm áp, đủ khiến bàn tay băng giá của ta ấm dần lên.
Vậy mà hôm nay… lại lạnh đến đáng sợ.
“A Ngọc, thị nữ nói nàng có đến lầu Thính Nguyệt hôm nay.”
“Nàng… đã nghe thấy điều gì rồi sao?”
Hắn hỏi một cách khó khăn.
Ta rút tay về, bước tới án thư, ngồi xuống viết.
Một bức hòa ly thư, viết xong, ta trao hắn.
Từ Hạc Thư không đón lấy.
“A Ngọc, đừng làm loạn nữa có được không?”
Hắn lại nắm tay ta, ôm ta vào lòng như một đứa trẻ không biết phải làm gì.
Ta chưa từng thấy hắn như thế.
Hắn siết ta rất chặt, tựa như muốn nhốt ta vào lòng mãi mãi:
“Những ngày qua, không phải ta cố ý giận dỗi với nàng… chỉ là…”
Chỉ là ngay cả hắn cũng chẳng biết lý do là gì.
Ta đẩy không ra, liền cắn mạnh vào vai hắn.
Từ Hạc Thư đau đớn, buông lỏng tay.
Hắn nhìn ta, như vừa tỉnh mộng.
Ánh mắt dần trầm xuống như vực sâu không đáy.
“A Ngọc, có lẽ là do ta quá nuông chiều nàng rồi.”
Hắn bật cười lạnh:
“Rời khỏi ta, rời khỏi Hầu phủ, nàng còn có thể đi đâu?”
“Thôi phủ có ai thật lòng yêu nàng ư?”
….
Tim ta trĩu nặng.
Bỗng cảm thấy chân váy bị kéo nhẹ.
Là mèo con.
Nó dùng răng cắn váy ta, rồi quay đầu nhìn về phía cửa phủ.
Từ Hạc Thư cầm bút, hạ bút lên hòa ly thư:
“Nàng đã muốn đi, thì đi đi.”
Hắn cho ta một tờ hòa ly, ánh mắt cao cao tại thượng.
Như thể tin chắc, ta sẽ giống trước đây, chẳng bao lâu lại chạy tới làm lành, lấy lòng hắn.
Người được sủng ái, quả thực… luôn có chút ngạo mạn.
…
Ngoài trời nổi sấm vang rền.
Sắp mưa rồi.
Ta ghét những ngày mưa.
Ôm mèo con, ta từng bước rời khỏi Hầu phủ.
Lúc đến, ta chỉ mang theo một con mèo và hồi môn.
Hồi môn là của phụ mẫu chuẩn bị cho A Quỳnh, chẳng phải của ta.
Cho nên lúc đi, ta cũng chỉ mang theo mỗi mèo con.
Nha hoàn thân cận ta chạy tới, khóc lóc gọi:
“Phu nhân!”
Ta khẽ giơ tay:
“Về sau, ta không còn là phu nhân của ngươi nữa.”
Nàng nghẹn ngào:
“Nếu người nhất định phải đi… thì hãy đợi mưa tạnh rồi đi.”
Ta lắc đầu.
Không muốn đợi nữa. Chỉ muốn rời đi ngay lúc này.
Nàng nhét vào tay ta một cây ô giấy dầu.
Thấy ta do dự không nhận, nàng vội giải thích:
“Đây là ô ta mang theo từ nhà, không phải vật trong phủ.”
Ta cảm thấy sống mũi cay cay.
Đưa tay vuốt nhẹ khuôn mặt nàng:
“Đa tạ.”
10.
Thật ra… ta cũng chẳng biết bản thân sẽ đi đâu.
Trên con phố từng sáng đèn rực rỡ, người xe tấp nập, nay vì cơn mưa lớn mà ảm đạm như bị rút cạn sinh khí.
Ta tìm đến một khách điếm để tạm trú.
Khi lên lầu tìm phòng, ta tình cờ va phải một nữ tử.
Nàng không giống những tiểu thư yểu điệu trong kinh thành, ngược lại cao ráo, đôi mày anh khí.
Chỉ nghe nàng dặn thị nữ bên cạnh:
“Mai giờ Mão xuất phát đến đất Thổ Phiên, lô hàng này không được phép trễ. Trước khi ngủ, nhớ dặn người canh giờ cẩn thận.”
Thổ Phiên?
Bước chân ta khựng lại.
Ta quay lại quầy, mượn giấy bút, rồi tìm đến nữ tử ấy.
Nàng xem xong hàng chữ, nhướng mày:
“Ngươi muốn đi biên ải cùng bọn ta?”
Ta gật đầu, viết thêm:
“Ta có thể trả phí.”
Lại viết thêm:
“Nếu bạc của ta không đủ, đến nơi nhị ca của ta sẽ thay ta thanh toán.”
Nữ tử kia ánh mắt lạ lẫm, nhìn ta, lại nhìn mèo con trong lòng ta.
Ta vội ôm mèo chặt hơn, xua tay:
“Mèo không đem đổi được!”
Nàng phá lên cười:
“Ngươi thú vị đấy.”
“Không lấy mèo, nhưng cho ôm một cái được không?”
Ta chần chừ một thoáng, rồi đưa mèo con sang.
Nàng chơi một lúc, rồi trao trả lại, cười nhếch môi:
“Giờ Mão ngày mai, nhớ mặc nam trang.”
Vậy là… nàng đồng ý rồi.
Ta gật đầu thật mạnh.
11.
Ước chừng một tháng sau, đoàn thương nhân đến biên ải.
Đích đến của họ là Thổ Phiên, lúc chia tay, nữ tử ấy ôm lấy mèo con, quyến luyến chẳng nỡ rời.
Ta len lén nhìn nàng.
Nàng bật cười, nhéo má ta:
“Ngươi cứ nhìn mãi vậy, ta thực sự sẽ ôm mèo đi luôn đó!”
Ta biết nàng chỉ đùa, khẽ mỉm cười.
Nàng liếc về phía trại lính phía trước, hỏi:
“Nhị ca ngươi thực sự ở trong đó? Có cần ta đưa ngươi vào không?”
Ta lắc đầu, giơ tay vẫy:
“Đa tạ.”
“Hữu duyên tái kiến.”
Nàng xoay người lên ngựa, vẫy tay không quay đầu.
Ta ôm mèo, tiến đến cổng doanh trại.
….
Lính canh ngăn ta lại.
Ta đưa ra phong thư nhị ca từng gửi, giao cho họ xem.
“Cô nương là muội muội của Thôi Tướng quân ư?”
Ta gật đầu.
Lính canh nhìn nhau, rồi cung kính mời ta vào.
…
Ta đợi trong trướng, ôm mèo ngồi yên.
Bất chợt mèo con vùng khỏi tay, chạy mất.
Ta hốt hoảng đuổi theo, vừa đến khúc quanh thì nghe thấy tiếng quát trong doanh:
“Con mèo ở đâu ra vậy? Điện hạ không thể chạm thứ này! Mau bắt vứt ra ngoài!”
Không kịp nghĩ, ta xốc màn trướng lên, thấy mèo con đang bám vào ống quần một nam tử, kêu meo meo.
Một người áo đen định tóm gáy mèo lên.
Tim ta thắt lại.
“Khoan đã!”
Một giọng nói vang lên từ phía trái.
Nam tử kia giơ tay, đón mèo con, nhẹ giọng vuốt ve trấn an.
Ta thở phào. Nhưng khi nhìn rõ khuôn mặt ấy…
Ta ch-ết lặng.
Hắn ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt sững sờ.
Hồi lâu sau, hắn mới thốt ra:
“Muội… là A Ngọc?”
Là nhị ca.
12.
Năm năm trước, nhị ca lĩnh mệnh theo Sóc Vương trấn thủ biên ải.
Lúc đại tỷ chuẩn bị thành thân với Từ Hạc Thư, nhị ca vì quân vụ rối ren mà chẳng thể hồi kinh.
Phụ mẫu ta cũng không nói với nhị ca chuyện ta thay A Quỳnh gả cho Từ Hạc Thư.
Thế nhưng, không rõ nhị ca nghe tin ấy từ nơi nào, sau đó gửi thư về Hầu phủ.
Trong thư, huynh ấy hỏi: “Việc đó là do muội cam tâm tình nguyện chăng? Nếu không, ta lập tức hồi kinh, vì muội mà đòi lại công bằng.”
Ta hồi thư, an lòng huynh.
Bởi lẽ, tuy bề ngoài là bị ép gả, nhưng trong lòng ta… chưa từng oán hận.
Thật ra, trước cả khi Từ Hạc Thư và A Quỳnh được ban hôn, ta đã có một chút tình ý với hắn rồi.
Tình cảm ấy đến từ đâu… ta cũng chẳng rõ.
Có lẽ, là một lần hắn theo công vụ ghé qua Thôi phủ, vô tình gặp ta nơi hành lang, mỉm cười với ta một cái.
Hay có lẽ… vì hắn hiểu thủ ngữ, luôn dịu giọng cùng ta trò chuyện.
Ta đã quên, chẳng còn nhớ rõ.
Chỉ biết rằng… lúc trông thấy khóe mắt nhị ca ửng đỏ, lòng ta cũng muốn rơi lệ.
….
“Tiểu muội, sao lại gầy thế này?”
Ta chạm nhẹ lên má.
Thực ra, từ khi vào Hầu phủ ta còn béo lên vài phần.
Chỉ là tháng này rong ruổi mỏi mòn, nên lại sụt cân.
Ta cong cong mày mắt, giơ tay ra hiệu:
“Nhị ca lại cao lớn, uy vũ hẳn ra, trông chẳng khác gì đại tướng quân, thật oai phong.”
Phía sau vang lên tiếng kêu:
“Này! Hai người đừng huynh muội tình thâm nữa! Mau xem điện hạ kìa, người ngất rồi kìa!”
Khi ấy ta mới vỡ lẽ — nam tử bị mèo con quấn lấy ban nãy… chính là Sóc Vương.
Mà hắn lại sợ mèo.
Thấy trên mặt hắn nổi ban đỏ, ta chợt nhớ từng đọc qua bệnh trạng này trong y thư.
Ta rút kim châm trong tay áo, tìm huyệt vị rồi nhẹ tay đâm xuống.
Nam tử áo đen ngạc nhiên:
“Trường Vũ, muội muội ngươi biết cả y thuật à?”
Nhị ca ta khẽ nhướng mày, tự hào đáp:
“Đó là đương nhiên. Tiểu muội ta cực kỳ lợi hại, ba tuổi biết chữ, sáu tuổi…”
Nam tử nọ nhếch môi cắt lời:
“Được rồi, biết là huynh có muội muội lợi hại rồi.”
Ta chép thuốc, hỏi nhị ca trong doanh có đủ dược liệu không.
Nhị ca sai người đi sắc thuốc.
…
Sóc Vương uống thuốc xong, nhị ca liền kéo ta ra khỏi trướng.
“Tiểu muội, vì sao muội đến tận biên ải? Chẳng lẽ bị người trong Hầu phủ bạc đãi?”
Từ nhỏ đến lớn, huynh ấy vẫn luôn dễ dàng đọc thấu tâm tư ta.
Ta chẳng giấu, kể cho huynh ấy nghe đại khái.
Nhị ca nghiến răng:
“Tên Hầu gia ấy, quả là không phải người tử tế!”
Huynh ấy xoa đầu ta, giọng ấm áp:
“Đừng sợ, nhân gian này có biết bao nhiêu nam tử tốt. Muội ta không hề kém cỏi, đâu cần bận lòng vì một kẻ như hắn.”
Ta mỉm cười, nhưng không để tâm đến lời huynh ấy.
….
Nhị ca đưa ta tới một trướng doanh nhỏ:
“Chỗ trọ trong quân không nhiều. Trong trướng này có Tiểu Hà, là một đầu bếp, muội hãy ở cùng nàng ấy một thời gian.”
“Biên ải chẳng như kinh thành, ngày ngày cơm canh đạm bạc, nếu muội không chịu nổi, cứ nói với huynh, huynh sai người đưa muội hồi kinh.”
Ta lắc đầu, mắt nhìn kiên định:
“Muội chịu được.”
13.
Sau khi ổn định nơi ở trong doanh, ta phát hiện ai nấy đều bận rộn.
Tiểu Hà lo chuyện bếp núc.
Binh lính thì luyện võ. Nhị ca và thuộc hạ thì thao luyện suốt ngày.
Nhìn mọi người bận rộn, ta cũng không đành nhàn rỗi, bèn chạy đến bếp giúp Tiểu Hà.
Kết quả, suýt chút nữa đốt cháy cả trướng bếp. Tiểu Hà vội vàng đẩy ta ra:
“A Ngọc, nếu thật sự rảnh, thì đi dạo quanh doanh trại đi cũng được!”
Nói rồi, nàng bịt mũi, hối hả quay lại.
…
Ta đành nghe theo, đi dạo quanh doanh.
Trời ngả chiều, đuốc được thắp khắp nơi.
Trên khoảng đất trống phía trước, binh sĩ đang luyện võ theo đội hình nghiêm chỉnh.
Bất chợt, một người gục xuống.
Ta vội chạy đến xem.
Thấy binh sĩ kia ôm lưng, vẻ mặt đau đớn.
Mấy người khác xúm lại:
“Lão Lưu, lại đau lưng nữa sao?”
Xem chừng là đau cơ mãn tính.
Ta xác định huyệt vị, rồi châm kim.
Chỉ vài hơi thở sau, lão Lưu đã đứng lên, xoay người:
“Khá hơn hẳn!”
Ông ta nhìn ta cảm kích:
“Đa tạ A Ngọc cô nương.”
Ta chỉ mỉm cười, khoát tay.
Một người khác nói:
“Thật thần kỳ! A Ngọc cô nương, đầu gối ta mỗi khi trời mưa lại nhức, cô nương có thể giúp ta châm kim chăng?”
“Còn ta, đầu đau như búa bổ, liệu có châm được không?”
“Còn ta nữa…”
Ta lần lượt châm cứu cho từng người.
…
“Đông nghịt ở đây làm gì vậy?”
Giọng nam tử quen thuộc vang lên, chính là Dương Bách Lăng, người mặc hắc y lần trước.
Thấy ta đang châm cứu, hắn bật cười:
“Ồ, muội muội quả nhiên lợi hại!”
“Trường Vũ, mau tới xem, muội muội ngươi ở đây này!”
Nhị ca đến đúng lúc ta thu kim.
Dương Bách Lăng khoác vai nhị ca ta, cảm thán:
“Tiểu muội của huynh, thật chẳng tầm thường.”
Ta ngẩng đầu, chớp mắt với nhị ca.
Nhị ca cười không nín được:
“Muội muội à, mặt mũi đen thui thế kia, bôi than đấy à?”
Ta sờ mặt theo phản xạ—nhớ ra mình vừa từ trướng bếp ra…
Sắc mặt liền đơ lại.
Dương Bách Lăng thì ôm bụng cười không dứt.
Ta thẹn, len lén lườm hắn nửa con mắt.
Nhị ca chỉ về phía trước:
“Đằng trước có hồ, muội qua đó rửa mặt đi.”
Ta gật đầu, bước đi.
Sau lưng vang lên tiếng gọi đùa giỡn:
“Tiểu muội, là hồ bên trái đấy! Coi chừng đi lạc!”
14.
Bên hồ mọc đầy lau sậy, ta khẽ vạch sang một bên, ngồi xuống, vốc lấy một ngụm nước mát rửa mặt.
Phía trước chợt truyền đến tiếng động khe khẽ.
Ta theo bản năng ngẩng nhìn.
Chỉ thấy dưới ánh trăng mờ ảo, có một nam tử mình trần đứng giữa hồ.
Ta giật mình che mắt, định quay người rời đi.
“Đứng lại.”
Nam tử ấy cất tiếng, tiến gần về phía ta:
“Bỏ tay xuống đi.”
“Cô đã mặc y phục rồi.”
Ta buông tay, nhưng vẫn không dám nhìn thẳng hắn.
Hắn hỏi:
“Ngươi là muội muội của Thôi Trường Vũ?”
Ta gật đầu.
“Cớ sao không dám nhìn cô?”
Ta khẽ nâng mắt.
Khi nhận ra là Sóc Vương, ta vội vàng hành lễ.
Trời đầu xuân vẫn còn lạnh, cách hắn không xa, ta vẫn cảm nhận được hơi lạnh tỏa ra từ người hắn.
Tắm nước hồ thế này, lẽ nào không sợ cảm phong hàn?
Hắn lại hỏi:
“Con mèo của ngươi đâu rồi?”
Từ ngày mèo con vào doanh trại, thường hay chạy loạn.
Sợ nó đụng phải Sóc Vương, ta bèn nhốt nó vào chiếc lồng lớn, chỉ thả ra dạo chơi khi đêm xuống, lúc không ai qua lại.
Ta đưa tay muốn giải thích, rồi lại khựng lại giữa không trung.
Sóc Vương không biết hình ngữ, lại không có giấy bút, ta chẳng biết phải làm sao.
Không ngờ, hắn lại nói:
“Cô nhìn hiểu được hình ngữ.”
Ta thoáng kinh ngạc.
Hắn nhẹ giọng:
“Thân mẫu cô… cũng từng mắc chứng thất ngữ.”
Thì ra là thế.
Ta giơ tay giải thích, rồi lại chắp tay nhận lỗi.
Nhị ca từng nói, mẩn đỏ trên mặt Sóc Vương mãi ba ngày sau mới tan.
Thật chẳng ngờ, mèo con lại gây ra họa lớn đến thế.
Hắn chỉ nhàn nhạt đáp:
“Không sao, tính mèo vốn ưa bám người.”
….
Chúng ta cùng trở về doanh trại. Tưởng rằng thế là hết lời.
Nào ngờ, hắn lại bất chợt hỏi:
“Ngươi nuôi con mèo ấy từ khi nào?”
Ta nhớ mang máng, mèo con là do nhị ca mang về tám năm trước. Khi ấy nó chỉ bé bằng bàn tay, còn chưa dứt sữa, lại ốm yếu thoi thóp.
Khi ấy ta vừa nhập môn y đạo, không biết trị cho mèo. Đành ôm nó đến gặp lang trung, lại tận tâm dưỡng mấy tháng mới khỏe mạnh được.
Kể xong, hắn cúi đầu nhìn ta, cười nhàn nhạt:
“Ngươi nuôi nó rất tốt.”
…
Phía trước dần sáng đèn đuốc.
Binh sĩ đã đốt đuốc, vây quanh nhau dùng bữa.
Thấy ta, Dương Bách Lăng vẫy tay:
“Tiểu muội, mau tới ăn cơm!”
Hắn vừa gặm bánh nướng đen thui, vừa nhăn mày lẩm bẩm:
“Bánh nướng này bỏ đi được rồi, Tiểu Hà hôm nay tay nghề xuống dốc, nướng khét lẹt.”
Nhị ca đẩy vai hắn:
“Có ăn là may, còn kén cá chọn canh.”
Ta nhìn chiếc bánh nướng cháy sém, đoán được là lỗi của ta khi suýt đốt bếp mấy hôm trước.
Có chút chột dạ.
….
“A, điện hạ!”
Dương Bách Lăng chưa nhai xong đã lúng búng gọi.
Mọi người ngẩng đầu, thấy Sóc Vương, liền đứng dậy chào hỏi.
Hắn chỉ gật đầu, tìm một chỗ ngồi, cầm lấy bánh nướng bắt đầu ăn.
Binh lính vẫn như thường, không hề vì sự có mặt của vương gia mà câu nệ. Vẫn trò chuyện rôm rả, vui vẻ như cũ.
Tiểu Hà nghiêng người thì thầm:
“Điện hạ không có quân vụ, đều ăn cơm cùng binh sĩ.”
Ta không hiểu.
Thế chẳng phải sẽ mất đi uy nghi quân chủ?
Tiểu Hà nhận ra vẻ nghi hoặc của ta, mỉm cười:
“Điện hạ lúc lâm trận xử lý quân vụ thì không giống thế đâu. Muội chưa thấy ngài ấy trên chiến trường… sát khí nặng như La Sát.”
“‘Ngọc diện Tu La’, chính là nói về điện hạ đấy.”
Ta đưa mắt nhìn Sóc Vương đang cùng nhị ca và Dương Bách Lăng trò chuyện.
Quả thật, khi hắn không cười, nét mày lạnh lùng, khí thế khiến người sợ run.
Nhưng khi cười…
Ta nhớ lại bóng hình hắn dưới trăng đêm trước.
Ánh trăng luôn dịu dàng.
Dù là gương mặt nghiêm nghị sắc sảo, khi nằm dưới ánh trăng cũng sẽ mềm lại.
15.
Từ khi châm cứu giúp binh lính, ta bắt đầu bận rộn.
Có ai đau nhức thương tổn, đều đến tìm ta.
Ta chẩn mạch, trị liệu, sau đó liền cắm đầu điều chế kim sang dược, tán thuốc cầm máu, rồi phát cho quân lính dùng dần.
Thấm thoắt… đã qua ba tháng.
Một ngày, nhị ca tìm đến ta, trên tay cầm thư nhà.
“Mẫu thân nói, hai tháng trước mới hay tin muội cùng Dục Ninh Hầu đã hòa ly. Nay chẳng thấy bóng dáng muội, lòng rối như tơ vò, đêm chẳng ngủ yên.”
Huynh ấy thu thư lại, hỏi ta:
“Tiểu muội, muội có muốn về kinh không?”
Ta lắc đầu.
Huynh trầm mặc, rồi nói:
“Vậy để huynh nói mẫu thân là muội ở biên ải?”
Ta cụp mắt, không đáp.
Huynh thở dài:
“Thôi, huynh không nói. Chờ đến khi nào muội muốn về, hãy báo ta một tiếng.”
Trước khi đi, huynh dặn:
“Gần đây muội và Tiểu Hà chớ nên ra khỏi doanh.”
Ta gật đầu.
Huynh lại đổi giọng:
“Không phải ‘chớ nên’, là tuyệt đối không được ra ngoài. Ngoài kia… nguy hiểm.”
Ta vẫn gật đầu.
Năm năm trước, Thánh thượng từng phát hiện dấu hiệu dị động từ Thổ Phiên, bèn lệnh cho Sóc Vương trấn giữ biên thùy.
E rằng… giờ đây bọn họ thực sự muốn khởi binh.
….
Ta lại chế thêm rất nhiều kim sang dược và tán thuốc tẩy độc.
Khi binh sĩ có thời gian, ta nhờ nhị ca giúp, chỉ rõ từng huyệt đạo, truyền cho họ cách bấm huyệt, để lỡ có thương tích giữa chiến trường, còn biết tự cứu mình.
Một tháng sau, Thổ Phiên thật sự xuất binh.
Chúng ta đã chuẩn bị kỹ, lập tức ứng chiến.
Trận chiến ấy kéo dài suốt ba tháng.
Cuối cùng, quân Thổ Phiên thảm bại, cuốn cờ lui binh.
Đêm hôm đó, sĩ binh tụ họp quanh lửa.
Được Sóc Vương cho phép, họ uống một chút rượu.
Rất nhanh, người ôm người, kẻ gọi cha mẹ, người khóc gọi thê tử.
Qua được kiếp nạn này, chỉ chờ giặc ký hòa ước, mọi người sẽ được hồi kinh, về với gia quyến.
Ai nấy đều mừng đến rơi lệ.
