Niên Phong - Chương 2
Bà nói mấy lời ấy, hệt như những lão nhân trong làng ta, trông chờ đứa con đi lính sớm ngày bình an trở về:
“Nhìn phủ đệ to lớn này, rốt cuộc cũng chỉ còn một bà lão tóc bạc là ta, bầu bạn cùng đứa cháu. Vinh hiển ấy là của thiên hạ nhìn vào, còn ta chỉ thấy bơ vơ lạc lõng.”
Mỗi lần thiếu tướng quân ra chinh chiến, lão phu nhân lại càng nói nhiều hơn.
Mà ta vốn tính trầm lặng, ta ở bên chép kinh, bà cứ thế kể chuyện, chẳng cần ta phải hồi đáp, chỉ cần lắng nghe là đủ.
Lâu dần, bà thường lật ra những quyển kinh ta chép thuở mới biết chữ, mỉm cười bảo:
“Ta dạy biết bao nhiêu nha hoàn học chữ, duy có ngươi là học nhanh, nhớ giỏi nhất.”
Ta thật thà đáp:
“Lão phu nhân tháng nào cũng cho con tiền, lại cứu được mẫu thân con, con phải làm cho trọn phận, không thì sẽ thẹn với ân tình ấy.”
Mẫu thân ta cuối cùng vẫn sinh thêm một nữ nhi. Nhưng ta dùng tiền hàng tháng mà doạ phụ thân ta rằng, nếu còn ép mẫu thân sinh con trai, ta sẽ chẳng gửi về một đồng nào nữa.
Số bạc ta gửi về, đủ cho người cha bạc nhược của ta xây nhà mới, mua cả một đàn bò dê, nên ông ta chẳng dám cãi lời.
Mà những việc này, bất kể lão phu nhân vốn tâm thiện, hay chỉ muốn tích phúc cho con cháu, thì với ta, đó đều là ơn đức lớn, cả đời phải ghi nhớ trong lòng.
Bởi vậy, khi lão phu nhân muốn đổi cái tên “Chiêu Đệ” của ta, ta liền xin được tự chọn lấy một cái tên thật hay, mong bà cho phép.
Ta viết ra giấy, lão phu nhân cùng đám nha hoàn nhìn vào mà đọc: “Niên Phong.”
Di Vũ cười trêu ta:
“Dưới trướng của Thiếu tướng quân có một tiểu binh tên gọi ‘Thụy Tuyết’, ngươi định thành một đôi với hắn à?”
Ta biết người tên “Thụy Tuyết” ấy. Ngày ta mới vào phủ, chỉ sang ngày thứ hai đã gặp hắn.
Hôm ấy ta đem canh bổ đến cho thiếu tướng quân, lạc đường, đi mấy vòng liền, lỡ bước ra đến cổng Tây.
Một tiểu thị vệ tiến tới chặn ta, chính là người đã từng nói chuyện với ta ở chùa, mặt trắng trẻo, mắt sáng như sao.
Hắn cười, lúm đồng tiền càng thêm sâu, hỏi ta:
“Canh gì mà phải bưng ra tận ngoài phủ?”
Ta cúi gằm mặt, cau mày như sắp khóc:
“Ôi, đây là việc đầu tiên lão phu nhân giao phó mà ta cũng làm không xong, biết phải tính sao đây?”
Hắn thấy ta sắp khóc, bèn nghiêm mặt nói:
“Đừng sợ. Ngươi đem đi đâu? Ta sẽ gọi nha đầu khác dẫn ngươi đi.”
Vừa nghe ta nói là đưa cho thiếu tướng quân, hắn liền nở nụ cười tươi rói:
“Hóa ra là cho thiếu tướng quân à, vậy để ta đưa ngươi đi.”
Tiểu thị vệ vừa dẫn đường, vừa phụ ta bưng canh, bóng lưng hắn thẳng tắp như cây trúc.
Tới gần cửa có đông người, hắn liền trả canh lại cho ta, khẽ nói:
“Cứ coi như tự ngươi bưng tới đây. Ta chưa từng vào trong, hiểu chưa?”
Ta ngơ ngẩn gật đầu, nhìn thiếu niên có đôi mắt cười cong như trăng khuyết.
Từ ấy, mỗi lần ta mang đồ cho thiếu tướng quân, đều cố tình vòng ngang cổng Tây một lượt.
Mãi tới lúc ta bưng áo hồ cừu đi ngang qua, mới nghe mấy thị vệ gọi hắn một tiếng “Thụy Tuyết”, ta mới biết tên hắn.
Những vòng quanh co ấy, không chỉ là đường đi, mà còn cất giấu nỗi niềm ta không dám thổ lộ.
Cho nên lúc ấy, Di Vũ lấy Thụy Tuyết ra đùa ta, ta vội bịt miệng nàng lại.
Giữa bao tiếng cười chọc ghẹo, ta đỏ bừng cả mặt, chỉ đành lí nhí mà cãi:
“Không phải thế đâu. Ta tên Niên Phong, đâu phải Niên Phong chính là Niên Phong đâu…”
Chỉ có lão phu nhân là dần dần không còn cười nữa, thở dài một tiếng thật dài.
Mọi người thấy vậy cũng im lặng, chỉ nghe lão phu nhân nói với ta:
“Niên Phong là đứa nhỏ có lòng. Người người đều theo ta mà cầu phúc cho tôn nhi ta, chỉ có ngươi là luôn nhớ đến ta.”
Niên Phong – người thịnh thì tuổi thọ tăng.
Ấy là nửa câu đối hay dán trên cửa vào mỗi độ xuân sang ở quê ta.
Ta nguyện cho lão phu nhân được phúc thọ lâu dài, vạn thọ vô cương.
Chỉ là rất lâu sau này, ta mới hiểu tiếng thở dài của bà –
Người đã trải qua nỗi đau phu quân và con trai tử trận, người tóc bạc tiễn kẻ tóc xanh.
Trường thọ, hóa ra cũng là một loại khổ hình.
3
Thiếu phu nhân là đích nữ của Hạ thái phó đương triều, lại là nữ tử tài danh vang vọng kinh thành.
Nàng cùng Thiếu tướng quân, vốn là mối hôn sự đính ước từ thuở nhỏ.
Thiếu phu nhân từ thuở bé đã theo thân phụ đọc đủ thi thư, ban đầu vừa nghe phải gả cho võ tướng, liền nhất quyết không chịu.
Nàng cho rằng, Thiếu tướng quân là độc đinh trong phủ, át hẳn được lão phu nhân nuông chiều quá độ, tính tình thô lỗ.
Lại thêm binh đao sát phạt, là nghề nghiệp cửu tử nhất sinh, nàng chẳng muốn mỗi ngày sống trong lo âu sợ hãi.
Ấy vậy mà, Thiếu tướng quân chỉ đến một lần, nàng liền đổi ý.
Hôm đó, lão phu nhân lo Thiếu tướng quân sơ suất lễ nghi, nên sai ta theo hầu, nên ta tận mắt thấy được ánh nhìn si mê của nàng khi đối diện cùng hắn.
Nàng đàm thi luận phú, hắn đối đáp như dòng chảy;
Nàng luận chuyện nước nhà, ánh mắt hắn còn xa hơn cả nàng.
“Phụ huynh của ta đều vong thân nơi chiến địa, chẳng vì hư danh, chỉ vì thái bình.”
Thiếu tướng quân chưa từng cùng đám hạ nhân chúng ta nói lời ấy, nhưng lại nguyện nói cho nàng nghe.
Trong mắt người, thân phận đích nữ của thái phó mới xứng là người có thể cùng luận thiên hạ quốc sự.
Mà thần sắc nàng cũng chân thành: “Nếu không làm tướng, chẳng phải sẽ bớt đi sát phạt hay sao?”
Hắn tiếp lấy tách trà nàng dâng, khẽ đáp:
“Bốn phương hổ lang chầu chực, chúng sẽ chẳng vì chúng ta không có tướng mà nhân nhượng. Một trận chiến, vong thân ngàn tướng sĩ, nhưng giữ được bình yên cho vạn dân biên thùy. Tam tiểu thư thông minh, hẳn tính được món lợi này.”
Hắn ngồi dựa trên lưng ghế, bóng trúc đổ qua song cửa, phản chiếu lên hàng chân mày thanh tĩnh như mây sớm.
Thiếu tướng quân thiện chiến mà không hiếu chiến, ở tuổi đôi mươi đã có trí tuệ và phong độ như vậy, thử hỏi ai mà chẳng động tâm?
Thế là, ánh mắt nàng không còn phòng bị cùng khinh thường.
Mỹ nhân mỉm cười, bảo mình có học bắn cung, muốn tỷ thí một phen.
Nàng bắn trúng gần hồng tâm, vẫn khiêm cung nói: “Tướng quân không cần nhường ta.”
Người hỏi: “Tam tiểu thư thật muốn thắng?”
Ta nghe lời ấy, liền biết hắn đã có toan tính trong lòng.
Nàng ung dung đáp, vạt váy cùng trâm ngọc theo gió lay động:
“Tất nhiên muốn thắng, nhưng càng muốn bại trong quang minh chính đại.”
Trong mắt tướng quân, liền thêm mấy phần thưởng thức.
Hắn giương cung bắn tên, ta ngỡ sẽ trúng tâm, ai ngờ lại xuyên qua mũi tên của thiếu phu nhân.
Hắn quay đầu nhìn lại, tóc buộc cao, dây cột vung lên rơi lên ngọc đai trước ngực—
Chính là ngọc đai do Thánh thượng đích thân ban tặng, khi hắn đơn thân lĩnh binh phá giặc, đoạt lại ba tòa thành thất thủ sau cái ch-ết của phụ huynh và huynh trưởng.
Mà vị tướng trẻ tuổi ấy, không tự kiêu vì chiến công, chỉ mỉm cười với cô gái mình yêu thương:
“Vậy thì, coi như ta và Tam tiểu thư hòa nhau.”
Tam tiểu thư thất thần thật lâu, chỉ một lần gặp, thành giai thoại, thành nhân duyên.
Ngày ấy hồi phủ, lão phu nhân gặng hỏi ta tình hình.
Ta nghĩ ngợi một hồi, mới chậm rãi đáp: “Thiếu tướng quân có đôi phần thất lễ, nhưng thắng ở chỗ Tam tiểu thư vừa lòng.”
Lão phu nhân cùng tổ mẫu của nàng từng là hảo hữu nơi khuê các, rất coi trọng mối hôn này. Nghe ta nói vậy, người mới yên lòng.
“Cháu gái bà ấy, hẳn không tệ.” Nhắc đến cố nhân, lão phu nhân bỗng mở lòng tâm sự.
Dưới mái tóc bạc, ánh mắt người vẫn đen trắng phân minh, thần sắc phảng phất, dõi nhìn cành mai ngoài song.
“Ta với bà ấy học cùng thư viện thời nhỏ, trí nhớ bà nhanh lạ, thực là ‘quá mục bất vong’.” Người bật cười nhẹ.
“Còn ta lại khác…” Trong đôi mắt mỏi mòn ấy, ta như thấy dáng vẻ thiếu nữ năm xưa “Ta thích chen cùng đám tiểu tử, học cưỡi ngựa, luyện kiếm. Có lần cải nam trang, bị Lão hầu gia tưởng nhầm là nhị công tử nhà họ.”
“Sau này gặp nhị công tử thật, nhìn thoáng qua, ta giật mình thấy rất giống. Có lẽ vì giống nhau, nên lần đầu gặp, ta đã thấy thân thiết, như gặp lại cố nhân.”
Lão hầu gia ấy, chính là phụ quốc hầu đã mất.
Mà vị nhị công tử kia, cũng chính là phu quân sau này của lão phu nhân – tổ phụ của Thiếu tướng quân.
Mối duyên ấy, đối với lão phu nhân là đoạn hồi ức tươi đẹp, như trang sách cũ bắt đầu từ một lần tương phùng kỳ diệu.
Nhưng chưa đầy đôi chục năm, đã khép lại nơi chiến địa, ngày lão tướng quân tử trận.
Lúc đó người còn trẻ, vừa tròn ba mươi, dưới gối có hai công tử, đều dạy dỗ chu đáo.
Mama quản gia kể, sau khi nghe tin chồng tử trận, lão phu nhân khóc ba ngày ba đêm, đến cơm cũng không ăn nổi.
Hai vị công tử nén nỗi đau mất phụ thân, thay phiên chăm sóc, mới giúp người vực dậy tinh thần.
“Khi ấy, lão phu nhân chỉ hỏi một câu: ‘Hai đứa có định ra trận không?’ Thấy cả hai không trả lời, người cũng không nói thêm.”
Quản gia thở dài, bà cùng tuổi với lão phu nhân, tóc mới điểm sương, nhưng tóc lão phu nhân đã trắng xóa.
“Chỉ một đêm, người như thay đổi hẳn. Từng là người ghét quản gia quản sổ nhất phủ, sau lại thân chinh gánh vác, làm trụ cột, để các con an tâm đánh giặc.”
Tấm hoành phi “Nhất phẩm chính nghi tướng quân” vẫn treo cao nơi cổng phủ, nhưng nụ cười của người thiếu nữ năm xưa thì đã không còn.
Người ngồi ngay ngắn nơi chủ tọa, không còn là người vợ yếu đuối, mà là một phu nhân cao quý, chống đỡ cả phủ tướng quân.
Người hiểu quá rõ nỗi đau mất mát đột ngột ấy.
Vậy nên người thường khuyên thiếu phu nhân an tâm dưỡng tánh, chớ đặt quá nhiều kỳ vọng nơi thiếu tướng quân.
“Con người chẳng thể vô ưu quá sớm. Nếu cành cây dựa vào đổ sập, sẽ ngỡ trời nghiêng đất sụp.” Câu này, lão phu nhân chỉ từng nói với mấy nha hoàn bọn ta.
Đông Quế nói: “Thiếu phu nhân thông minh, nếu lão phu nhân nói, nàng ắt hiểu ngay.”
Lão phu nhân trầm mặc hồi lâu, khẽ lắc đầu.
“Nàng từ đầu không muốn gả cho võ tướng, nay đã đồng ý, sao lại chẳng hiểu.”
Người tâm địa lương thiện, nên luôn thấu những điều người khác chẳng dễ thấy.
Cho nên tiếng thở dài ấy, khiến lòng ta đau xót khôn nguôi.
Người cất lời, giọng đã run run: “Chặng đường dài như vậy, một viện toàn nữ tử trông ngóng chẳng có ai về. Nàng ấy mới bao tuổi? Về sau biết đi đâu về đâu…”
Giữa lúc thu phong lặng lẽ, ánh thời gian như ngưng đọng.
Ta chợt nhớ đến Đại phu nhân xuất gia, Nhị phu nhân rời khỏi kinh thành.
Năm ấy, hai tướng quân chia binh hai ngả—một bình Tây Cương, một đi dẹp giặc phương Nam.
Người đi Tây Cương, ch-ết chẳng toàn thây, mặt mũi bị dã thú xé nát, về tới kinh cũng chẳng nhận ra. Người đi phương Nam, bị vạn tiễn xuyên tim, ch-ết trận khi còn vận hỉ phục đỏ tươi.
Hai vị phu nhân ấy tuổi còn chưa tròn đôi mươi, mất phu quân khi còn xuân xanh.
Lão phu nhân thương tình, bảo họ tự ý tái giá, phủ tướng quân không giữ người.
Nhưng hai người ấy, một người xuất gia, một người rời kinh, chẳng ai còn muốn quay về nơi này.
Đại phu nhân gửi con lại, đêm ấy ôm con cùng lão phu nhân đóng cửa trò chuyện, chẳng ai hay họ đã nói gì.
Chỉ biết sau đêm đó, lão phu nhân tóc trắng như tuyết, tiễn biệt Đại phu nhân rồi ngã bệnh hơn một tháng.
Còn nói gì nữa? Người mất chồng, kẻ mất con, đều là m.áu trong tim, lệ trong mắt.
Thánh thượng thương cảm con cháu phủ tướng quân dần ít, đặc ban lệnh cho thiếu tướng quân cưới vợ rồi một năm sau mới xuất chinh.
Nay đã gần một năm, miệng thì không nói, nhưng lòng ai cũng nặng trĩu.
Ma ma quản gia nay đã già, lời nói hồ đồ, có lần trước mặt lão phu nhân vừa lựa dây màu vừa nói:
“Chẳng lẽ trong viện này có tà khí gì, sao trai tráng đều tranh nhau đi đánh giặc? Cuối cùng, chẳng ai…”
Đông Quế nháy mắt ra hiệu, ta liền đoạt lấy dây trong tay bà, vội cười:
“Buộc dây loại này hại mắt lắm, lẽ ra phải bảo chúng con làm sớm.”
Lão phu nhân cúi đầu nhìn kinh sách, không lên tiếng, nhưng ta biết người đã nghe thấy.
Người chưa bao giờ làm khó hạ nhân, nhất là bậc già cả như bà quản gia.
Vì thế sau khi đưa bà ra ngoài, bầu không khí trong phòng lặng lẽ trầm mặc.
Lão phu nhân lại bật cười, mở lời:
“Nghe bà ấy nói, có tức không? Bà ấy gả cho lão quản sổ, nay con cháu đầy nhà, còn chạy đến đây khoe khoang. Mấy đứa nha đầu các con, ai có chủ ý hay, mau nghĩ cách giúp ta trị bà ấy một trận.”
Thế là chúng ta đều cười rộ.
Ta đang định nói mấy lời khéo léo để lão phu nhân vui lòng, chẳng ngờ thiếu phu nhân bước vào, mở miệng liền xin người.
“Trong viện của tổ mẫu toàn người lanh lợi, con ngồi ở Tây viện mà cũng nghe tiếng cười vọng lại.”
Nàng nửa ngồi xuống bên người, vừa xoa bóp chân, vừa cười nũng nịu:
“Nếu tổ mẫu thương con, thì để con chọn một người sang bầu bạn nhé?”
Lão phu nhân gật đầu đáp ứng, trong lòng ta bỗng dâng lên điềm xấu, Di Vũ cũng đưa mắt nhìn ta đầy lo lắng.
Quả nhiên, thiếu phu nhân chỉ tay về phía ta.
“Con biết tổ mẫu thương nhất là cô nương tên Niên Phong này, nên con nào dám sơ suất. Con định để thiếu tướng quân nạp nàng vào phòng luôn cho phải phép.”
5
Ta bị thiếu phu nhân cưỡng ép dâng cho thiếu tướng quân. Lý do là năm xưa thiếu tướng quân chịu để ta theo hầu đi gặp nàng, đủ thấy tướng quân coi trọng ta.
Ta nào dám trèo cao, trăm phương nghìn kế khước từ, mãi mới khuyên được thiếu phu nhân rằng cứ để mọi sự giản đơn, cho ta chỉ hầu hạ bên tướng quân là đủ.
