Niên Phong - Chương 3
Đêm đầu đông, tuyết bay phủ trời, tướng quân ngồi trong nội thất xem sách, còn ta ngồi nghiêng bên cửa, canh lửa than, chẳng ai mở miệng nói câu nào.
Tiếng gió tuyết khẽ vỗ song cửa, lại càng rõ rệt.
Ta chẳng dám ngước nhìn hắn. Xưa nay vẫn vậy.
Ta vào phủ nay đã tám năm. Dăm ba năm gần đây, tướng quân thường lĩnh binh xuất chinh, khó có dịp gặp mặt. Nhưng những năm trước, hắn còn cùng lão phu nhân ở Nam viện, ta cùng hắn gặp gỡ vốn như cơm bữa.
Dù vậy, mỗi lần trông thấy hắn, ta đều cảm thấy xa lạ, tựa lần đầu diện kiến.
Trong mắt hắn, ta vĩnh viễn chỉ như loài miêu cẩu không tên; mà trong lòng ta, hắn lại xa xăm như núi non, biển cả, như một đạo hồng lưu cuồn cuộn mà ta không sao với tới.
Khi ta còn đang chọc lửa than bên cửa, thì Thuỵ Tuyết khoác cả thân tuyết gió, làm xong việc trở về phục mệnh.
Hắn vừa vào cửa, ban đầu không ngẩng đầu, chỉ cụp mắt tiến vào, quỳ gối bẩm báo. Đến khi thấy tà váy của ta, hắn thoáng ngập ngừng, như muốn nói mà thôi.
Tướng quân nói:
“Không sao. Nàng là người mới đến hầu trong phòng ta.”
Thuỵ Tuyết khi ấy mới ngẩng đầu.
Y nhìn thấy ta, thoáng sững người, rồi buột miệng khẽ nói:
“Là cô nương sao?”
Tướng quân lãnh đạm nói:
“Trước kia là người của phủ lão phu nhân, tên là…”
Tướng quân ngẫm nghĩ hồi lâu, Thuỵ Tuyết bèn cúi đầu, giọng nhẹ như gió thoảng:
“Là Niên Phong cô nương.”
Tướng quân nhìn Thuỵ Tuyết, lại nhìn ta, bật cười:
“Tên hai người, chẳng phải chính là ‘Thuỵ Tuyết triệu Niên Phong’ đó sao?”
Ta cúi đầu, chỉ trông thấy bóng lưng Thuỵ Tuyết.
Năm ấy, hắn từng bước đi trước ta, đầu ngẩng cao như trúc xanh thẳng tắp. Mà giờ đây, hắn quỳ trước mặt ta, mi mục cụp xuống, đôi tay vì rét mà nổi gân xanh vằn vện.
Thuỵ Tuyết khẽ nghiêng mặt, lại thoáng nhìn tà váy ta, rồi nói nhỏ như thay ta giải thích:
“Cô nương tên là ‘Niên Phong nhân tăng thọ’ – ý là mùa được mùa, dân thêm thọ. Hồi ấy lão phu nhân khen mãi, danh ấy truyền khắp cả phủ.”
Tướng quân chăm chú nhìn ta, lần đầu tiên nhìn thẳng ta, trong mắt phảng phất một tia tán thưởng. Người nói với ta:
“Nàng quả là người có lòng. Tổ mẫu không thương nàng thì quả là uổng phí.”
Ta lặng lẽ đứng lên, lặng lẽ hành lễ, lặng lẽ lắc đầu.
Ta không biết lúc này nên nói lời gì, mới không trở thành kẻ xu nịnh.
Nhưng những tâm tư ấy, trong phủ rộng này, vốn chẳng đáng nhắc tới.
Vậy nên cuối cùng, ta lấy cớ chẻ than, thức thời lui ra, để bọn họ tự do bàn chính sự.
Ta cố tình cầm đèn, vòng theo lối xa, cuối cùng dừng chân dưới hiên viện.
Nơi đó có cây ngân hạnh cao lớn, đứng dưới tán cây có thể tạm tránh tuyết dày.
Ta vốn muốn tránh tuyết, vậy mà lại nhịn không được, vươn tay ra hứng lấy, tò mò chẳng rõ trận tuyết này lớn đến chừng nào.
Cũng chỉ vì rảnh rỗi mà sinh phiền não thôi.
Ngay lúc ta đang ngẩn ngơ, liền thấy một bóng nam nhân từ hành lang gấp khúc phía xa đi tới.
Chưa cần nhìn rõ mặt, chỉ nghe thanh âm, ta đã nhận ra là y.
“Cô nương mau vào phòng đi. Ta đã bẩm xong chuyện với tướng quân.”
Khi đến gần, ánh mắt y vẫn thanh tú như xưa.
Cặp lúm đồng tiền bên má cũng chẳng đổi thay.
Ta không đáp lời, chỉ khẽ chuyển ý nói:
“Tuyết đêm nay thật lớn.”
Thuỵ Tuyết khẽ cười, đứng chắn nơi đầu gió, thay ta che đi phần lớn tuyết bay.
“Thuỵ tuyết triệu niên phong.”
Hắn vừa dứt lời, không hiểu sao ta bỗng cay cay nơi sống mũi.
Ta không nhịn được mà hỏi:
“Các ngươi… phải đi xuất chinh nữa sao?”
Thuỵ Tuyết thoáng sững lại, rồi lập tức cụp mi mắt ôn nhu.
“Cô nương hãy hỏi chuyện khác đi.”
Ta lập tức hiểu ra, trong lòng trào dâng muôn phần bất lực.
Ta bỗng nhớ tới ngày xưa lão phu nhân từng hỏi hai đứa con trai của mình rằng, có nhất định phải ra trận không, hẳn cũng là tâm tình như lúc này.
Ta ngoan ngoãn hỏi chuyện khác:
“Vậy lúc đánh trận, ngươi có sợ không?”
Thuỵ Tuyết không ngờ ta lại hỏi vậy, nhưng vẫn vô cùng nghiêm túc suy nghĩ, đoạn đáp:
“Sợ. Nhưng ta chỉ làm tốt được mỗi việc này. Trong nhà còn trông vào bổng lộc của ta để sống. May mà tướng quân xưa nay khoan hậu với binh lính, chưa từng keo kiệt chuyện bạc tiền.”
Bọn lính nhỏ phần lớn chẳng hiểu rõ ý nghĩa của những chuyến chinh phạt liên miên.
Họ không nói ra được những lời của tướng quân: “Không vì hư danh, mà vì thái bình.”
Phần nhiều, họ chỉ đi vì vương lệnh, vì quân lệnh, vì một bữa cơm mà thôi.
Chính vì không nói được những lời kinh diễm thiên hạ, nên họ không có tên.
Sử sách chẳng ghi, cũng chẳng có trong lời ca tụng của người đời sau.
Chỉ còn lại cốt xương vô chủ, và cha mẹ già suốt ngày ngóng ở đầu thôn.
Nhìn vào đôi mắt sáng trong của Thuỵ Tuyết, ta nhất thời chẳng nói nên lời.
Ta bất giác nhét chiếc đèn trong tay mình vào tay hắn, rồi xách giỏ than, quay người bỏ chạy.
Ta nghĩ, ta muốn vì hắn mà thắp một ngọn đèn dẫn lối về. Nhưng nay ta chỉ là kẻ vô danh, vô phận.
Có lẽ hắn gọi gấp tên ta, nhưng thanh âm ấy lập tức tan trong màn tuyết đêm.
…
Ta đoán thiếu phu nhân đem ta gán cho tướng quân, hẳn là muốn dò xét lòng người.
Phủ này miệng lưỡi thị phi, ta từng nghe đôi ba lời đồn, rằng hai người tuy thành thân đã lâu, nhưng chưa từng viên phòng.
Mỹ nhân như hoa, mà người đối với nàng tựa như cách một tấm màn, khiến nữ tử kiêu ngạo như thiếu phu nhân khó tránh sinh nghi.
Chỉ tiếc thiếu phu nhân không hiểu, nàng đã là người trong lòng tướng quân. Nàng còn chẳng nhìn thấu người phòng bị điều gì, ta lại càng không thể.
Cái gọi là tình nghĩa quen biết từ thuở nhỏ, ta chỉ có thể cười khổ mà lắc đầu.
Tình nghĩa gì đâu? Xưa nay những dũng tướng gi-ết địch quyết đoán, ai từng nghe vì nữ nhi tình trường, lại càng không vì một nha hoàn hạ nhân mà mở lòng?
Vậy nên ta vốn không dò ra điều gìi cả.
Ta cộng lại, cũng chỉ ở trong phòng tướng quân có hai đêm.
Đêm đầu, ta cố ý tránh mặt, chỉ hầu lửa than, thức trắng cả đêm;
Đêm thứ hai, người ngồi trấn định như núi, sai ta chép kinh suốt đêm, chuẩn bị cho ta nửa người giấy viết, tựa như sợ ta nửa đêm sẽ buông bút tìm đến người.
Ta đành thật thà bẩm hết với thiếu phu nhân, còn khuyên nàng:
“Thiếu phu nhân nếu cho rằng nô tỳ cùng tướng quân vốn quen biết, vậy thiếu phu nhân càng nên nghe một lời của nô tỳ. Lấy tâm tính cao ngất của tướng quân, người tuyệt chẳng vì nữ nhân khác mà lạnh nhạt với chính thê. Có chăng vì quân vụ bận rộn, mới đôi lúc sơ sót việc nhà mà thôi.”
Ta nhìn thiếu phu nhân cười tươi tận chân mày, vậy mà miệng vẫn còn giả bộ trái ý:
“Hay là chàng thích những cô nương hoạt bát hơn? Như nha đầu kia, hình như gọi là Di Vũ, trông cũng lanh lợi lắm.”
Ta biết lão phu nhân đã chọn xong mối tốt cho Di Vũ, bản thân nàng cũng vui lòng. Lão phu nhân dự tính sang năm sẽ tự mình lo liệu hôn sự cho nàng, nên ta vội ngăn lại:
“Nếu tướng quân có lòng, đâu đợi đến hôm nay mới cần thiếu phu nhân đứng ra tác hợp. Chưa kể, còn có mấy tỷ tỷ lớn tuổi hơn, tướng mạo càng nổi bật, tướng quân cũng chưa từng liếc mắt thêm lần nào.”
Ta biết lời này thiếu phu nhân thích nghe, nên ta liền cúi người, vừa rót trà cho nàng, vừa nói tiếp:
“Bình thường chúng nô tỳ đều sợ tướng quân, chỉ thấy người tựa Diêm La sống, sợ nói sai một câu mà chịu phạt, ai còn dám vọng tưởng trèo cao?
“Nay thiếu phu nhân đã vào phủ, tướng quân mới có vài phần nhân tình. Đủ thấy bọn nô tỳ hầu hạ mười mấy năm, cũng chẳng bằng thiếu phu nhân chỉ mới vào phủ chừng mấy tháng.”
Thiếu phu nhân nghe xong, cười rộ, nắm tay ta kéo ngồi cạnh bên.
Nàng ghé sát, khẽ nói:
“Chẳng trách tổ mẫu thương ngươi nhất, quả nhiên ngươi là đứa có lòng.”
Nàng hỏi ta, nếu không có ai khác, thì vì sao tướng quân vẫn tránh mặt nàng.
Thật lòng ta cũng muốn biết, nhưng ta chỉ lắc đầu, nói chẳng đoán ra lòng người.
Thiếu phu nhân thở dài, chỉ đành đổi sang chuyện khác.
Nàng bảo đã đem ta về Tây viện, tất không thể để ta bị lạnh lẽo.
Vậy nên nàng cho ta cùng nàng học quản gia.
Thần thái nàng rạng rỡ, ta ngờ rằng ngày xưa lão phu nhân làm chủ phủ tướng quân, hẳn cũng từng có thần sắc kiêu hãnh như thế.
“Tổ mẫu muốn ta san sẻ, ta tự nhiên phải học cho tốt.”
Nàng còn nói thêm:
“Để tướng quân chỉ lo ngoài chiến trường, việc trong phủ, ta cùng tổ mẫu sẽ gánh vác.”
Khi ấy, ta bắt gặp lão phu nhân thoáng lộ thần sắc thất thần.
Ấy chính là những lời người từng nói.
Hôm đó, lão phu nhân đặc biệt lưu ta lại, sai ta làm cho người một chiếc khăn lau mồ hôi mới.
Tuy rằng đầu xuân vẫn còn rét, người thật chẳng cần dùng đến.
Nhưng ta cam lòng nghe người sai khiến. Vì món nợ ta mang với người, nào chỉ là một chiếc khăn.
“Niên Phong, con nói thật với ta.” Lão phu nhân đuổi hết người, chỉ gọi ta đến gần, khẽ hỏi. “Ta nghe nói phu thê hai đứa nó bất hoà, đúng không?”
Ta nghĩ ngợi rồi đáp:
“Hai người họ bình thường trông rất tốt. Chỉ nghe đồn tướng quân không chịu viên phòng. Nghĩ lại mấy lời thiếu phu nhân từng nói, chuyện này e là thực.”
Lão phu nhân thoạt tiên sửng sốt, rồi bàng hoàng.
Sau cùng, vẫn không che giấu nổi vẻ thương tâm.
Tuyết càng rơi dày, trời u ám, khiến chân mày nơi đáy mắt người càng thêm nét sầu.
Ta chẳng hiểu được, chỉ dám bước tới, quỳ gối, khẽ vuốt lưng người.
“Niên Phong nói vụng về, chẳng biết phải nói sao để lão phu nhân nguôi lòng.” Ta không dám chau mày, chỉ cố nói cho dịu giọng.
Không ngờ lão phu nhân chỉ lặng lẽ nhìn ta một cái, liền rưng rưng rơi lệ.
Đây là năm thứ chín ta vào phủ, mà người trong mắt ta luôn như Phật như Thần, lần đầu tiên ta thấy người mỏng manh như băng giá mùa xuân.
Người lặng lẽ khóc thật lâu, rồi giọng khàn hẳn, mới gọi tên ta:
“Niên Phong à…”
Chỉ một tiếng gọi ấy, khiến ta cũng không cầm nổi nước mắt.
Càng khiến ta chẳng ngờ, chính là những lời tiếp theo của người.
“Nó đã thấy mẫu thân nó ch-ết tâm, lại thấy ta tóc bạc, tiễn người đầu xanh, chịu khổ bi thương. Nó tình nguyện để dòng tộc của nó đoạn tuyệt nơi chiến trường, chứ không muốn để chúng ta, đời nối đời đi lại vết xe đổ…
Lão phu nhân run rẩy dựa vào lòng ta mà khóc. Tim ta như bị dao cứa từng nhát.
Ấy là một quyết định đoạn tuyệt tử tôn.
Bởi chàng không chỉ muốn làm một vị tướng trấn quốc cứu dân, mà còn muốn bảo vệ chút thân nhân ít ỏi của mình.
Nếu sát nghiệp thực có ác báo, thì để nó dừng lại nơi chàng.
Ấy chính là một niềm giác ngộ đau đến tận xương tủy.
7
Chúng ta rốt cuộc cũng nghênh đón thánh chỉ xuất chinh của thiếu tướng quân.
Trước khi đại quân khởi hành, lão phu nhân kéo thiếu tướng quân đến trước mặt, chỉ siết chặt tay người, chẳng nói nên lời.
Vốn là người hành sự quả quyết, nay thiếu tướng quân cũng đỏ hoe khoé mắt. Dù phó tướng đã ba phen thúc giục, người vẫn không chịu buông tay.
Bởi tất thảy chúng ta đều biết, lão phu nhân tuổi đã cao, chẳng dám nói đến chuyện nếu còn sống để trông thấy cháu đích tôn tử trận nơi biên cương liệu còn gắng gượng nổi, chỉ nói lần này thiếu tướng quân đi đến tận Mạc Bắc xa ngàn dặm, dọc đường qua lại mất mấy tháng, lão phu nhân chưa chắc đã chờ nổi đến ngày người trở về.
Thiếu phu nhân đứng một bên đã lệ tuôn đầy mặt, bám chặt cánh tay ta, cố gắng không để ngã quỵ.
Còn thiếu tướng quân, cuối cùng chỉ nói một câu.
Người không màng lễ nghi, cúi đầu rúc vào lòng lão phu nhân:
“Tổ mẫu, chờ con trở về, con sẽ cùng người ăn mừng thọ thất thập…”
Khi đứng dậy, đứa nhỏ làm nũng năm nào liền hóa thành vị tướng quân thiết huyết, một khi đã lên chiến trường, trong lòng chẳng còn chỗ nghĩ đến gia viên.
Những bóng người giáp vàng ngựa sắt dần khuất, từng người như trúc cứng giữa tuyết, như tùng già cô ngạo giữa sương.
Ta lúc đầu còn có thể dõi theo bóng lưng của Thụy Tuyết, nhưng càng về sau, nhìn ai cũng đều giống như Thụy Tuyết không tên không họ, chỉ là một trong muôn vàn bóng quân xa mịt mù cát bụi.