Niên Phong - Chương 5
Người cúi xuống nhìn bộ khải giáp dính máu, sau cùng khẽ gật đầu, rồi theo thiếu phu nhân quay bước đi về phía tây viện.
Trước khi thiếu tướng quân quay lại, lão phu nhân chợt tỉnh giấc.
Ngoài hiên, tuyết lất phất bay như tơ rắc, người khẽ gọi tên ta:
“Ta mới chiêm bao thấy Tiểu Tiêu đấy.”
Ta liền siết tay người, ngồi sát bên giường, nhỏ nhẹ mà rằng:
“Thiếu tướng quân đang ở tây viện, người có muốn gặp không? Để nô tỳ cho người đi mời thiếu tướng quân tới hầu chuyện người.”
Lão phu nhân khẽ gật đầu. Chỉ chốc sau, thiếu tướng quân đã bước vào phòng.
Vừa tới ngưỡng cửa, ta liền thấp giọng:
“Lão phu nhân tạm thời không nhớ chuyện người xuất chinh. Xin thiếu tướng quân đừng nhắc đến.”
Người khẽ “dạ” một tiếng, liền dãn nét mặt, tươi cười bước vào.
“Tổ mẫu, Tiểu Tiêu vừa đi học nấu mì trường thọ trong tiểu trù phòng. Đợi sang tháng sang năm, chúng ta mừng thọ bảy mươi cho tổ mẫu, Tiểu Tiêu sẽ tự tay nấu cho tổ mẫu một bát thật ngon.”
Lão phu nhân lập tức cười rạng rỡ, đưa tay vuốt nhẹ khuôn mặt gầy guộc của thiếu tướng quân.
Song miệng người lại lẩm bẩm câu chuyện mê loạn:
“Tổ mẫu dạo trước có nói với con đấy, về tam tiểu thư phủ Thái phó. Con chẳng phải từng nói, đêm Thất Tịch năm ngoái gặp nàng ở hội đăng, liền vừa thấy đã xiêu lòng hay sao? Khi nào thì con định sang phủ người ta cầu hôn đấy?”
Thiếu phu nhân đứng sau lưng thiếu tướng quân, nghe đến đó thì thần sắc rõ ràng sững lại.
Thiếu tướng quân dịu giọng đáp:
“Chờ sang xuân, Tiểu Tiêu nhất định sẽ sang phủ cầu hôn. Dù nàng không muốn gả cho kẻ cầm binh, Tiểu Tiêu cũng sẽ dốc hết tâm trí đem nàng về.”
Thiếu phu nhân khẽ bước nghiêng, lánh vào sau rèm châu, khóe môi mỉm cười mà đôi mắt lại ngân ngấn lệ.
Lão phu nhân bèn gọi ta lại gần, dặn dò:
“Cho Niên Phong đi cùng con. Con xưa nay phóng khoáng quen rồi, thế nào cũng sơ sót lễ nghi. Lại đừng có khinh mấy đứa nha đầu trong phòng ta, bọn nó đứa nào cũng lanh lợi, thông tuệ cả đấy.”
Thiếu phu nhân lúc ấy mới vỡ lẽ, thì ra năm xưa thiếu tướng quân muốn mang ta theo bên mình chính là vì lão phu nhân an bài, bèn khẽ nhìn ta, trong mắt thoáng đầy áy náy.
Chúng ta đang quây quần, vui vầy mà hầu chuyện lão phu nhân, thì một trận gió lạnh thình lình quất vào song cửa, khiến lão phu nhân run bắn. Gương mặt đang rạng rỡ chợt vụt tắt nét cười.
Người bỗng nâng hai bàn tay gầy guộc, ôm lấy khuôn mặt thiếu tướng quân. Nhưng lần này, nước mắt người tuôn xối xả.
“Tiểu Tiêu của ta… con… con cuối cùng cũng về tới nhà… Trên mình con có bị thương không? Mạc Bắc gió lạnh cắt da, con có bị rét không? Có bị đói không? Nhất định là đói rồi… Gầy thế kia, chạm vào đã thấy cả xương…”
“Tôn tử của ta, có lạnh không?”
“Tôn tử của ta, có đói không?”
Cả gian phòng, chẳng một ai không đỏ hoe vành mắt, bi thương xen lẫn vui mừng, tựa khúc trầm buồn dâng đầy trong ngực chẳng thoát ra được thành lời.
10
Ở thời gian cuối cùng của đời người, lão phu nhân tựa hồ có được hồi quang phản chiếu, mọi chuyện đều nhớ rõ ràng.
Chúng ta cùng lão phu nhân đón năm mới, người còn lật ra con hổ vải mà thiếu tướng quân thuở nhỏ từng chơi, kể rằng ban ngày chàng hất qua một bên, miệng thì chê là thứ trẻ con, nhưng đến đêm lại giấu dưới gối, ngủ say còn ôm chặt trong tay.
Chúng ta hiếm khi thấy thiếu tướng quân đỏ mặt, bèn càng thêm gan dạ, rủ nhau cười một trận.
Người chẳng hề giận, cứ mặc cho một đám nữ nhân chúng ta cười cợt trêu đùa, chỉ thản nhiên uống rượu mà nói cười vui vẻ.
Sau ba tuần rượu, ta phụng lệnh lão phu nhân, đi phát bạc thưởng cho đám tiểu tư trong ngoài cửa viện đang trông đêm.
Ta vừa đi vừa điểm mặt từng người, mãi cho đến tận cửa tây, vẫn chưa thấy bóng hình quen thuộc kia.
Từ ngày bước chân vào gian phòng thiếu tướng quân, ta chưa từng dám nhắc tới cái tên Thuỵ Tuyết.
Nhưng trận chiến này hiểm ác, nghe nói đã ch-ết không biết bao nhiêu huynh đệ, mà thiếu tướng quân về phủ cũng đã nửa tháng, vẫn chưa thấy hắn, trong lòng ta thật chẳng yên.
Ta đành hỏi một tiểu vệ đứng ngoài cửa tây:
“Thị vệ trông cửa ở đây đâu rồi? Ta đã đi khắp nửa viện mà chẳng thấy, chẳng lẽ năm nay không đến lượt họ thay phiên?”
Một tiểu vệ ngẩng đầu, giơ tay chỉ về phía bắc:
“Cô hỏi Thuỵ Tuyết với Trịnh Lâm phải không? Họ nay canh giữ ở cửa bắc đấy.”
Ta vội vàng chạy một mạch về phía cửa bắc, đường tuyết trơn trợt, còn ngã sóng soài trên bậc thềm.
Vừa đẩy cửa ra, ta liền đảo mắt nhìn quanh, chỉ thấy mình Trịnh Lâm đứng gác.
Ta cố đè nén kinh hoảng trong lòng, một tay đưa bạc thưởng, một tay lại dò hỏi:
“Nghe nói trận này hao binh tổn tướng, thê thảm vô cùng. Trịnh đại ca có thể toàn mạng trở về, ấy là phúc phận to lớn. Năm rồi thấy huynh cùng Thuỵ Tuyết trấn giữ nơi này, năm nay lại chẳng thấy, lẽ nào…”
Trịnh Lâm nhận bạc, thở ra một tiếng dài:
“Phải rồi, quá nhiều huynh đệ đã ch-ết, thậm chí thi thể cũng chẳng kịp đưa về.”
Gió tuyết rít lên bên tai, tay ta giấu trong tay áo khẽ run.
“Thuỵ Tuyết số còn lớn, gãy mất một chân, nhưng cuối cùng vẫn giữ được mạng. Tướng quân an bày cho hắn trông việc sổ sách, không cho hắn gác cửa nữa.”
Tim ta rớt phịch xuống, phải hít mấy hơi thật sâu mới gượng lại được thần trí.
Dọc đường trở về, ta chẳng biết bản thân đi thế nào, trong đầu chỉ quanh quẩn một câu: “Tốt xấu gì vẫn còn sống…”
Ta chẳng ngờ, vừa bước qua cửa viện, liền bắt gặp Thuỵ Tuyết cùng mấy vị quản sự tới bái niên với thiếu tướng quân và lão phu nhân.
Hắn đã bỏ bộ chiến bào đỏ thẫm, thay một thân trường sam xanh biếc, khoác thêm tiểu áo bông xám tro, ngồi trên xe lăn, đôi lúm đồng tiền kia vẫn dịu dàng như thuở nào.
Ta và hắn chỉ thoáng chạm mắt, ta nhân lúc chuyện trò với đám quản sự, khẽ nói với hắn:
“Chỉ cần còn sống, sang năm tất sẽ khá hơn.”
Hắn nhìn ta, lại ngoảnh nhìn tuyết đang rơi ngoài sân, rồi nhẹ giọng nói câu cũ:
“Thuỵ Tuyết triệu phong niên, ấy là điềm lành.”
Hắn theo mọi người hướng ta chắp tay:
“Đa tạ cô nương chúc phúc, cũng nguyện cô nương năm mới mọi điều như ý.”
Mọi điều như ý… kỳ thực tựa như trèo lên trời xanh vậy.
Ta khẽ đặt chiếc đèn lưu ly trong tay vào lòng hắn:
“Đường tuyết trơn, chớ đi lối cửa bắc.”
Thuỵ Tuyết tinh mắt, cúi đầu liếc tà váy ta nhuộm đầy bùn sau cú ngã khi nãy, hàng mày khẽ chau lại.
Hoá ra lúc chau mày, lúm đồng tiền của hắn sẽ mờ đi.
Ta đã xoay người định vào phòng, Thuỵ Tuyết lại đột ngột gọi ta.
“Nghe nói Niên Phong cô nương giỏi quản sổ sách. Nếu sau này ta trông cửa hiệu, có thể tới thỉnh giáo cô nương không?”
Ta ngoảnh mặt mỉm cười, nhẹ nhàng gật đầu.
Dưới đôi mắt hiền lành kia, lúm đồng tiền lại hiện lên.
Sống là tốt rồi, Thuỵ Tuyết…
Sống là tốt rồi.
…..
Đầu xuân, cỏ non mới he hé nhú xanh, lão phu nhân trong một buổi trưa nắng ấm, đã không còn tỉnh lại nữa.
Nhân sinh thất thập cổ lai hy, đời người của bà bể dâu thăng trầm, cứng cỏi hiền hậu, thực đã là quá đủ.
Chỉ là chúng ta là chẳng cam lòng, cứ ngỡ người hiền như thế, hẳn phải trường thọ bách niên, phải sống lâu hơn cả chúng ta mới phải.
Lão phu nhân đã vì mọi người lo chu toàn, nhất là Đông Quế.
Người dặn thiếu tướng quân nhận Đông Quế làm nghĩa muội, đợi nàng thủ tang xong, ắt phải thay người chọn cho nàng một mối nhân duyên tốt đẹp, để nàng làm chính thất chủ mẫu, quyết không để nàng chịu nửa phần tủi thân.
Chỉ riêng đến lượt ta, lão phu nhân mới rướm đôi phần áy náy, khẽ nắm tay thiếu tướng quân:
“Ta xưa nay thương xót các cô nương này, ta thương Đông Quế, Di Vũ, càng thương Niên Phong. Các nàng đều giống ta, đều là những kẻ đáng thương, mệnh không do mình…
Người nói gấp, ho khan kịch liệt.
Ta không nỡ, vội bước lên vỗ lưng, nghẹn ngào:
“Lão phu nhân, đó đều là phận sự của Niên Phong. Xin người nghỉ ngơi chốc lát, đừng vì Niên Phong mà nhọc lòng nữa…”
Người nhìn ta thật lâu, trong mắt đong đầy muôn phần xót xa.
Mãi về sau, khi ta có con có cháu, ta mới hiểu vì sao lão phu nhân lại thu nhận nhiều cô gái mồ côi như thế. Có lẽ bởi người quá thương trẻ nhỏ.
Chúng ta đều là do người nuôi lớn, người coi ta như cốt nhục, nên đến giờ phút lâm chung mới bận lòng không yên.
Song cuối cùng, suốt một đời người, đến lúc nâng quan tài, cũng chỉ còn một đứa tôn nhi là trọn vẹn bên người.
Người muốn để ta tự quyết định, chỉ bảo thiếu tướng quân đáp ứng thành toàn tâm nguyện ta, vậy mới coi như viên mãn một tâm nguyện của người.
Dù biết thiếu tướng quân vốn hiểu chuyện, lão phu nhân vẫn cố gọi thiếu phu nhân đến bên giường, trịnh trọng dặn dò:
“Tướng phủ này không giữ ai cả. Nếu có ngày thiếu tướng quân bỏ mình ngoài sa trường, con có thể tự do trở về nhà hay tái giá, ta tuyệt chẳng ngăn cản.”
Người lo trọn cho hết thảy mọi người, rồi một đêm xuân quang gió mát, lặng lẽ khép mắt đi xa.
Hôm đó, tất cả chúng ta đều ở bên người. Người đi không vướng bận, chẳng còn gì hối tiếc.
Ngày đưa tang, những cô nương từng được người đích thân tác thành hôn phối đều trở về.
Tất cả khoác áo tang, quỳ lạy bi thương. Đến cả người yếu đuối nhất, đông đủ như vậy, cũng có thể nâng nổi cỗ quan tài.
Di Vũ đã mang thai, không thể quỳ lâu, đến khi thiếu tướng quân trầm giọng quát bảo thôi, nàng mới dập đầu xong rồi ngồi dậy.
Nhưng nàng vẫn ngồi yên nơi linh đường, trên chiếc ghế vuông nàng từng thích nhất thuở ở tướng phủ, cứ lặng lẽ nhìn di ảnh lão phu nhân, đôi mắt đỏ hoe mãi không khô lệ.
Tang lễ ấy, tiếng khóc không lúc nào dứt, mưa rơi suốt không ngừng.
Ai nấy đều nói, lão phu nhân là bậc đại thiện nhân, người lành như thế, đến cả trời cao cũng không nỡ chia ly.
Đông Quế đã gầy hốc hác, nàng ngẩng đầu rơi lệ, run giọng hỏi ta:
“Lão phu nhân nhất định đã đi làm Bồ Tát rồi, có phải không?”
Ta gật đầu thật mạnh, đưa tay ôm nàng thật chặt.
Ta lau nước mắt trên má nàng, nhẹ khuyên:
“Vì lão phu nhân, cũng vì chính mình, chúng ta nhất định phải sống thật tốt.”
“Người từng nói, chúng ta ai nấy đều như người, đều phải gắng sức mà sống.”
“Quý trọng bản thân, mới có thể sống ra dáng một con người.”
12
Từ ngày lão phu nhân khuất núi, Nam viện xưa kia từng rộn ràng tiếng cười tiếng nói, bỗng chốc trở nên tĩnh mịch, giá lạnh.
Mọi người sợ nhìn cảnh nhớ người, thiếu tướng quân đành cho xây thêm mấy gian phòng ở Tây viện, để ta cùng Đông Quế vài người dời sang đó mà ở.
Đến năm thứ hai sau khi lão phu nhân quy tiên, thiếu tướng quân giữ đúng lời hứa, nhận Đông Quế làm nghĩa muội, lại vì nàng mà tìm được mối hôn sự quyền thế hiển hách, cuối cùng đưa nàng xuất giá theo đủ lễ nghi, vinh quang xứng phận tiểu thư tướng phủ.
Đông Quế từng ngỏ ý muốn đưa ta theo cùng.
Nhưng ta nhớ đến lão phu nhân, nhớ từng gốc cây, viên đá nơi tướng phủ, cuối cùng chỉ khẽ lắc đầu.
Chẳng bao lâu, thiếu tướng quân tìm đến ta.
Người hiểu rõ, dẫu ban đầu chỉ bởi một trận phong ba do thiếu phu nhân gây ra, nhưng nay ở phủ này, ta rốt cuộc vẫn là người trong phòng chàng.
Người hỏi ta, từ nay có tính toán gì chăng.
Những lời này, thuở trước thiếu phu nhân cũng từng hỏi ta. Giờ đổi lại là thiếu tướng quân.
Ta biết người vội vã muốn an bày cho xong, tất hẳn lại lĩnh chiếu xuất chinh.
Bởi vậy, ta liền quỳ xuống, dập đầu mà thưa:
“Nếu ngày sau thiếu phu nhân hoài thai, ta nguyện lưu lại, phò tá phu nhân quán xuyến tề gia. Nếu thiếu tướng quân vẫn nhất quyết không muốn con nối dòng, ta sẽ ra khỏi phủ.”
Lần này, cuối cùng ta cũng can đảm nói ra tên chàng:
“Ta muốn đi tìm Thuỵ Tuyết. Tiệm ngọc khí của hắn ở gần lăng viên nhất, ta có thể tiện bề hương khói cho lão phu nhân, sớm chiều quét dọn phần mộ.”
Thiếu tướng quân thoáng ngẩn người, hồi lâu mới khẽ hỏi lại:
“Thuỵ Tuyết?”
Ta đưa tay gãi gãi đầu, đáp:
“Ta từng thầm thương hắn, nhưng chưa hề làm điều gì vượt lễ giáo. Nếu thiếu tướng quân không thuận ý, từ nay ta cũng sẽ không tìm hắn nữa.”
Người bật cười mà tựa hồ mang chút tức giận, lại hỏi:
“Thế nào? Ta đường đường một tướng quân, giữ được cho ngươi phú quý suốt đời, lại không bằng một tên tiểu binh hay sao?”
Ta thành thật đáp:
“Nói đến việc dẫn binh đánh trận, dẫu có ngàn vạn Thuỵ Tuyết cũng không sánh được một thiếu tướng quân. Nhưng nói đến chuyện an bề ngày sau, thì Thuỵ Tuyết bằng lòng để ta quán xuyến gia nghiệp, chịu để một nha hoàn như ta đứng trước hắn, như thế, với ta mà nói, đã là đủ rồi.”
Thiếu tướng quân khi ấy rốt cuộc đã hiểu rõ điều ta cầu mong.
Và lựa chọn của người, cũng ứng nghiệm lời lão phu nhân từng nói—
Người chịu buông tay để ta đi, để ta an tâm mà tìm Thuỵ Tuyết.
Bởi vậy, thiếu phu nhân rốt cuộc sẽ chẳng thể hoài thai. Tướng phủ này, đến đời thiếu tướng quân, coi như dừng tại đây mà thôi.
Ánh mây trời loang lổ, gió hạ lướt qua mặt, đến cuối cùng, thiếu tướng quân nhìn ta cũng không còn như nhìn một con mèo con chó như xưa nữa.
Người nói với ta:
“Niên Phong cô nương hãy lưu lại thêm ít lâu, giúp ta chiếu cố phu nhân. Ít nhất…”
Người hơi chau mày, bởi ta hiểu người còn muốn nói gì.
Ít nhất… chờ người từ chuyến xuất chinh này trở về, có một kết cục rõ ràng.
“Nếu ngươi lo lắng…” — chẳng ngờ thiếu phu nhân đứng sau cánh cửa lén nghe, nghe tới đây, cuối cùng nhịn không nổi mà bước ra.
“…thì chi bằng hãy chính thức mời Niên Phong cô nương làm quản gia. Đợi một ngày tướng phủ này có tan rã, cũng để nàng tự do mà rời đi, được chăng?”
Thiếu phu nhân vốn tính cứng cỏi, lúc nói lời này, cố gắng nở nụ cười, dẫu ánh mắt đã nhuốm vẻ như dao cứa ruột gan.
Có lẽ, ta mãi chần chừ lưu lại đến cuối cùng, cũng là bởi mệnh số an bài để ta trụ lại canh giữ tướng phủ đoạn cuối này thay cho lão phu nhân chăng?
Nghĩ đến đó, ta bèn đáp ứng thiếu phu nhân.
Ấy vậy mà, tựa hồ được lão phu nhân linh thiêng phù hộ, thiếu tướng quân từ đó kinh qua trăm trận, hoặc thắng hoặc bại, nhưng lần nào cũng giữ được tính mạng trở về.
Người dụng binh rất mực tinh thông, đào tạo ra không ít dũng tướng được đế vương trọng dụng.
Mà người cũng có một nguyên tắc: trong quân không thu nhận những người là độc tử, chỉ nhận kẻ còn huynh đệ tỷ muội.
Thiếu tướng quân chưa đến tứ thập đã vượt qua cả công huân của tằng tổ, được phong nhất phẩm quân hầu, lãnh đao kiếm do thiên tử ngự ban, có quyền trảm gian thần tặc tử.
Rồi người biết tiến biết thoái, đến lúc sóng gió dâng cao nhất, lại dâng sớ cáo lão quy điền.
Thiếu phu nhân khi ấy cũng đã chẳng còn trẻ. Vì sợ tổn hại thân thể nàng, hai người không sinh thêm hài tử, chỉ nuôi nấng một đám trẻ côi cút, tựa như lão phu nhân thuở xưa.
Còn ta… vốn dĩ nghĩ chỉ ở lại tướng phủ trông nom, rồi cùng Thuỵ Tuyết sống qua ngày. Nào hay, cứ thế một bước đi hai nơi, đi mãi cũng hết hơn nửa đời người.
Cuộc đời ta, có lẽ cũng tính là tốt đẹp lắm rồi.
Gặp được hết người tốt này tới người tốt khác, để đến cuối cùng, ta cũng được bình an mà kết thúc trọn kiếp.
Khi tuổi đã già, ta hay ngồi dưới tàng cây ngân hạnh hóng mát, một tiểu cô nương do thiếu phu nhân nuôi lớn lại thường quấn bên ta, lắng nghe ta giảng Phật kinh.
Nàng học ta tập viết chữ, viết rất nhanh, rất khéo.
Đến khi ta buột miệng khen:
“Ta đã dạy qua bao nhiêu đứa trẻ tập viết, con là đứa học mau nhất, viết đẹp nhất.”
Mãi lâu sau, ta mới sực nhớ—năm xưa, lão phu nhân cũng từng nói với ta y như vậy.
Thiếu tướng quân giờ cũng không còn trẻ. Mọi người đều gọi người là “Lão Hầu gia.”
Mà ta vẫn thường gọi người “Thiếu tướng quân,” bởi ta chẳng thể buông bỏ những năm tháng thanh xuân sáng rỡ ấy.
Người từng bảo ta càng lúc càng giống lão phu nhân ngày trước.
Ta chỉ cười mà rằng:
“Từ ngày người đi rồi, kỳ thực, chúng ta đều sống thành dáng dấp của người.”
Thân xác có thể mục nát thành tro bụi, nhưng chí hướng và tấm lòng lão phu nhân để lại, thì không.
Ấy mới là kết cục tốt đẹp nhất.
Đến lúc lâm chung, ta thêu xong chiếc khăn tay cuối cùng.
Ta dùng nó lau khuôn mặt đầm đìa nước mắt của một tiểu hài tử què chân vừa được đưa vào phủ cứu chữa.
Ta mỉm cười, nói với nó:
“Hài tử, đừng sợ. Phu quân ta mất nửa bên chân, mà vẫn sống trọn vẹn một đời.”
Lão phu nhân ơi, ta nghĩ, ta cũng đã sống trọn một kiếp người tốt đẹp rồi.
Người nói xem, có phải thế không?
[Hoàn]