Rời Khỏi Phí Phủ - Chương 3
“Bên trên bảo rồi, sống phải thấy người, ch-ết phải thấy xác, một đứa cũng không được sót!”
Tên trẻ cau mày: “Đi thôi! Mẹ kiếp, thuốc nổ dùng như pháo hoa, suýt nữa hun chết lão tử.”
Giọng họ dần xa.
Chờ đến khi bốn bề yên ắng, ta mới trồi lên mặt nước.
Tựa vào bờ, nôn khan từng đợt.
Ta lau mặt, không dám nhìn lại phía thuyền.
Chỉ một mực bò đến chỗ tướng quân, cắn răng xé váy, băng vết thương cho mình.
Gắng sức cõng ông lên.
Lần đầu… thất bại.
Cả hai ngã nhào xuống bùn.
Ta nuốt bùn lẫn máu, lại thử.
Lần hai, ba, bốn…
Gió nổi lên, mưa theo sau.
Một giọt.
Là mưa.
Hai giọt.
Là nước mắt.
Bốp!
Ta tự tát mình.
Không được khóc.
Nước sông dâng, gió hú như quỷ khóc.
Đôi tay từng chỉ biết cầm kim thêu hoa giờ đã gãy móng, nắm chặt cỏ rễ mà gắng gượng đứng lên.
Bùn lầy cản bước.
Con đường phía trước dài hun hút.
Ta cõng tướng quân, đôi chân ông kéo lê đất ướt.
Ta lảo đảo đi theo bóng một cánh chim yến lạc, xuyên qua màn sương mịt mùng mà không dám ngoái đầu.
15
Phí Hoán đẩy cửa bước vào, trên bậu cửa sổ có một con yến nhỏ đang đậu lại. Còn có một chiếc trâm cài tóc đã phai màu.
Phí Hoán khoác tang phục, đứng trầm mặc trước cửa sổ, chậm rãi nhặt chiếc trâm lên.
Chẳng rõ từ đâu, một trận mưa theo gió lạnh ùa đến, thổi tung mấy chồng giấy trong chiếc hộp chưa đóng kín.
Nét chữ ấy, mềm mại như mây, là của một thiếu nữ từng thân quen.
Trên đó viết rằng:
[Đức Phật nói, con người có tám nỗi khổ: sinh, lão, bệnh, tử; ái biệt ly, cầu bất đắc…]
Lúc đó, Phí Hoán còn trẻ không hiểu chuyện, vẫn nắm tay nàng mà cười.
“Tuổi còn nhỏ mà đã chép mấy lời xui xẻo như thế làm gì? Ta đây bản lĩnh đầy mình, sẽ che chở cho nàng cả đời không khổ.”
Khi đó, hắn từng ngông cuồng như thế.
Thật ngu xuẩn thay.
Phí Hoán mím môi cười khổ, để đầu nhọn của trâm cắm sâu vào ngón tay, máu tươi nhỏ từng giọt.
Yến nhi, nàng đi rồi cũng tốt.
Hắn thầm cảm tạ ông trời vì nàng đã rời đi sớm.
Nếu không, đến ngày hôm nay bị truy sát, e rằng nàng cũng đã bị bán cho kỹ viện quan phủ rồi.
Giả như nàng còn ở lại, hắn có thể làm được gì để bảo vệ nàng đây?
Phụ thân từng nói, xưa nay trong thiên hạ không có điều gì mà Phí Hoán muốn mà không đạt được – nhưng nay, thời ấy đã qua rồi.
Bệ hạ trọng bệnh, triều chính đại loạn, Hồng Trung và họ Triệu nắm quyền, cậy thế làm càn.
Phụ thân bị bắt do những thư tín từng trao đổi với Ngự sử – nội dung bàn về việc phế bỏ Anh Vương, bị quy là tội đại nghịch.
Tuy không có chứng cứ xác thực, nhưng thời thế đang loạn, chỉ một chút gió thổi lay động cỏ cây, cũng đủ khiến những kẻ quyền thế như Hồng Trung run rẩy.
Khi đao kiếm không thể thu về, hễ có ai nói hay làm điều gì bất lợi cho chúng, liền rước lấy họa sát thân.
Huyết dịch trong ngục chiếu ngày ngày vấy đỏ cửa quý tộc, và hôm nay, đã tới lượt Phí gia.
Phụ thân tự tận để bảo toàn gia tộc, mẫu thân vì sợ hãi quá độ mà bệnh nặng không dậy nổi.
Cây đổ thì khỉ tan, trong cơn hỗn loạn của vụ tịch biên, gia nhân thì bỏ trốn, thì tranh cướp.
Phí gia chẳng mấy chốc chỉ còn lại một cái vỏ rỗng.
Qua đêm nay, ngay cả cái vỏ ấy cũng không còn là của hắn nữa.
Lồng đèn trắng đung đưa, trăng bạc trôi giữa tầng không.
Tên nô tài Lai Hỉ len lén quay về, đạp nát chút ánh sáng xưa, ôm trong tay châu báu trộm từ tư khố, còn cắp theo viên đông châu lớn nhất.
Trước khi rời đi qua lỗ chó, hắn còn quay đầu nhổ một bãi nước bọt:
“Vương tôn công tử gì chứ? Kim chi ngọc diệp gì chứ? Ngày ngày khinh thường kẻ nô bộc, xem thử sau này sống hơn ta được mấy ngày!”
Có kẻ phản chủ, nhưng cũng có người lòng son chưa tắt.
Tiếng gõ cửa nhẹ vang lên. Ánh trăng sáng như máu rọi vào, Minh Nguyệt mắt hoe đỏ:
“Công tử…”
Phí Hoán chẳng quay đầu, chỉ cúi xuống, vuốt nhẹ chiếc trâm cũ.
“Cớ sao còn chưa đi?”
Minh Nguyệt nghẹn lời:
“Nô tỳ từ nhỏ theo hầu phu nhân, chẳng có nơi nào để đi. Nay phu nhân bệnh nặng, công tử cho phép nô tỳ lưu lại chăm sóc phu nhân, có được chăng…”
Phí Hoán mỏi mệt đáp khẽ:
“Tùy ngươi.”
Minh Nguyệt lau nước mắt, đưa ta một gói nhỏ trong lòng.
“Đây là đôi giày Yến nhi từng làm cho công tử, tuy còn dang dở, nhưng là tâm ý của nàng. Nô nhân lấy lại từ chỗ Tiểu Liễu.”
Bên trong là đôi hài thêu dở, kim mũi tinh xảo, không biết nàng đã thức bao đêm mà làm ra.
Mà thứ hắn để lại cho nàng sau cùng, lại là lạnh nhạt, cay nghiệt, vô tình.
Ngón tay hắn run rẩy, đón lấy, ôm chặt vào lòng.
Hắn từng sở hữu bao nhiêu châu báu, tiêu xài như cát bụi, không tiếc một đồng.
Vậy mà giờ đây, lại ôm một đôi giày chưa hoàn vào ngực, siết chặt như giữ lấy cả đời mình.
Minh Nguyệt nhìn hắn lo lắng, sợ công tử xưa kia phong lưu nay rơi xuống bùn đen, không còn thiết sống.
“Công tử, phu nhân trụ chẳng nổi, Phí phủ nay chỉ còn một mình người gánh vác.
Người chỉ có sống, mới có thể làm được gì đó. Hãy nghĩ đến phu nhân, nghĩ đến Yến nhi, các nàng liệu có muốn thấy người như vậy?”
Ánh trăng chiếu vào song cửa, hắn ngẩng mặt nhắm mắt, hít một hơi sâu.
Kẻ ch-ết đuối giữa nước cũng cố vươn tay tìm lấy chiếc cỏ trôi.
Bởi vì trong tim có điều vương vấn, nên người mới níu được hơi thở mà sống.
16
Học cách sống như một kẻ phàm tục, chẳng dễ chút nào.
Giờ đây hắn mới thấu hiểu, thế nào là cùng quẫn, bế tắc.
Rời khỏi Phí phủ, hắn thuê một gian nhà cũ nát. Riêng tiền thuốc thang cho mẫu thân đã tiêu tốn không ít ngân lượng.
Bên mình chỉ còn Minh Nguyệt, vừa lo toan bếp núc, vừa phải thêu thuê may mướn kiếm thêm chút bạc.
Hắn cũng từng đi tìm những bằng hữu xưa cũ – người thì đóng cửa không tiếp, kẻ lại lời qua tiếng lại, lấp liếm cho qua chuyện. Ngày trước nếu gặp tình cảnh ấy, hắn đã đập bàn bỏ đi.
Nhưng nay, chỉ đành nhẫn nhịn.
Có một bằng hữu tuy chẳng thân thiết, nhưng vẫn gặp riêng hắn, dốc hết đồ quý trên người đưa cho, thở dài:
“A Hoán, đừng chê ít, ta cũng bị cắt lương rồi. Người nhà cấm tiệt ta dính líu đến ngươi. Sau này, e khó mà gặp lại…”
Phí Hoán nuốt nghẹn nơi yết hầu, cúi đầu nhận lấy mấy món vụn vặt, khàn giọng:
“Đa tạ. Nếu còn có ngày sau, ta tất báo đáp.”
Bằng hữu vỗ mạnh lên vai hắn, trầm giọng:
“Ngươi… cố mà sống cho tốt.”
Ngày tháng càng thêm khốn khó, bệnh của mẫu thân càng ngày càng trầm trọng, tiền bạc như nước đổ xuống sông.
Hắn đành ra ngoài tìm việc mưu sinh.
Nhưng ngoài việc nuôi chim, cưỡi ngựa, ta còn biết làm gì? Chẳng lẽ đi làm kẻ bưng bê, hầu hạ kẻ khác?
Cái đầu này, hắn chưa từng cúi. Đi đâu cũng va vấp, bị khinh rẻ.
Cuối cùng bất đắc dĩ, hắn xin làm phu khuân vác tại bến tàu.
Kẻ cùng làm thì ghét bỏ, bởi thấy ta thân thế cao quý mà vẫn ngạo nghễ, không chịu khôn khéo đi phụ mấy tiểu thư phu nhân khiêng hành lý kiếm tiền thưởng, lại chỉ biết cắm đầu khiêng mấy món nặng trịch.
Vai hắn rớm m.áu, nứt da nát thịt, sau này chai dày mới thôi chảy máu.
Mẫu thân có lúc tỉnh lại, thấy hắn như vậy liền bật khóc.
Hắn chỉ lặng lẽ lau nước mắt cho người, chẳng than vãn, chẳng oán trách.
Lời hắn nói càng lúc càng ít, nước mắt cũng hiếm hoi dần.
Có lẽ vì đêm ôm giày nàng khóc một lần ấy, đã là đủ rồi.
Khi vinh hoa rũ sạch, bị đày giữa cõi đời tầm thường, bị đánh, bị khổ, bị lột sạch những vỏ bọc kiêu ngạo, hắn mới cúi đầu mà thấy chính mình.
Một kẻ vô dụng, không còn được gia tộc che chở, trần trụi giữa đời.
Thì ra hắn cũng biết sợ hãi, cũng như bao nô tài nhỏ bé, có ngày chỉ còn biết trốn trong bóng tối mà khóc rấm rứt.
Yến nhi, nàng từng là chim trong lồng bị khinh rẻ… nàng cũng từng khóc như thế ư?
17
Minh Nguyệt nhìn hai mẹ con hắn lặng lẽ không lời, khẽ thở dài, rồi ôm thau quần áo ra sông giặt.
Hạ đã tàn, thu chớm tới, mà hơi nóng vẫn còn vương.
Tiếng giặt áo vang vọng ven sông, Minh Nguyệt lau mồ hôi trên trán bằng khăn tay, nhưng chưa kịp thu tay, đã bị kẻ khác giật lấy.
Tên du côn mặt mày thô lỗ, là kẻ cầm đầu nơi xóm chợ này, đã nhiều lần trêu ghẹo Minh Nguyệt.
Mấy lần trước nàng nhẫn nhịn, chẳng nói với Phí Hoán.
Nay kẻ kia càng quá quắt, hít một hơi sâu mùi khăn, rồi nhe răng cười dê, toan nắm tay nàng:
“Tiểu nương tử có bàn tay non nớt thế này, sao nỡ để làm việc khổ?
Nhà nàng chẳng có bản lĩnh, chi bằng theo gia gia đây, đêm đêm xuân sắc nồng ấm, chẳng còn phải vất vả gì…”
Minh Nguyệt giận đến tím mặt, quật lại một bạt tai giòn tan:
“Biết tôn trọng một chút đi!”
Tên họ Tiền giận dữ, tay như gọng sắt siết lấy Minh Nguyệt:
“Ngươi dám đánh lão tử? Nhà ngươi chỉ là kẻ khuân vác nơi bến tàu, còn dám lên mặt với gia gia? Hôm nay ta lấy ngươi, xem hắn làm gì được!”
Minh Nguyệt vùng vẫy, vừa khóc vừa mắng:
“Cầm thú! Thả ta ra!”
Ngay lúc đó, một hòn đá to bằng nắm tay bay thẳng đến, đập trúng sau đầu Tiền lão tam.
Hắn tối sầm mặt mày, quay đầu gầm lên:
“Kẻ nào đánh lén lão tử?!”
Một giọng cố ý giả trầm, vang lên như thiếu niên thanh tú:
“Rút cái móng heo của ngươi ra.”
Tiền lão tam to lớn, nhìn quanh chẳng thấy ai, cúi đầu mới thấy một nam tử gầy gò nhỏ thó, người đen nhẻm, râu ria xồm xoàm, nhưng mắt đen như suối, ánh lên vẻ trẻ trung.
Cảnh tượng quá nực cười khiến hắn bật cười:
“Ngươi… ngươi dám ư?”
Thiếu niên kia chẳng hề sợ, vẻ mặt tự đắc:
“Ta dám đấy, ngươi làm gì được ta?”
Tiền lão tam buông Minh Nguyệt, xắn tay áo, cơ bắp nổi cuồn cuộn:
“Tốt! Hôm nay ta dạy ngươi thế nào là làm người!”
Nào ngờ, thiếu niên kia lặng lẽ rút ra một thanh đao to bằng nửa thân người, đứng vững, ngón tay siết chặt, mắt lạnh băng băng nhìn hắn.
Cảnh đó, ai mà không kinh sợ?
Tiền lão tam xưa nay chưa từng thấy thứ gì như vậy, tưởng chừng gặp phải cao nhân giang hồ, vội nuốt nước bọt, vừa lùi vừa dọa:
“Ngươi dùng binh khí? Được! Chờ đó! Ta về lấy đao, rồi quay lại đấu một trận!”
Nói rồi cắm đầu bỏ chạy.
Minh Nguyệt ngẩn ngơ nhìn người trước mặt.
Thiếu niên ấy đợi hắn đi xa, mới thở phào, loạng choạng vác đao về, tự thưởng cho mình một nụ cười đắc ý:
“Chiêu này… quả thực chưa lần nào thất bại.”
Chàng ngẩng đầu, ánh dương rọi lên gương mặt.
Một đôi mắt trong như nước, sáng lấp lánh giữa ánh nắng thu.
Minh Nguyệt nghẹn lời, tim khẽ run.
“Yến… Yến nhi?!”
18
Khi ta còn đang lâng lâng đắc ý vì màn giả làm cao nhân anh hùng cứu mỹ nhân, bỗng nghe tiếng Minh Nguyệt gọi, theo bản năng liền cất tiếng đáp:
“A?”
Đến khi định thần lại, nàng đã nhào tới ôm chặt lấy ta.
Cảm giác nơi cổ ươn ướt, khiến ta sững sờ một khắc, rồi nhẹ nhàng đáp lại vòng ôm.
“Đừng khóc, đừng khóc, kẻ xấu bị đánh đuổi rồi, không còn gì phải sợ nữa.”
Gió thu nhẹ thổi, nước mắt nàng tuôn như dòng suối nhỏ.
Người xung quanh tụ lại xem ngày một đông, ta vỗ vai nàng, khẽ bảo:
“Tỷ tỷ, ta đưa người tới nơi khác nói chuyện.”
Vào đến một ngõ nhỏ không người, Minh Nguyệt lại bổ nhào vào lòng, suýt nữa giật rơi bộ râu giả của ta.
Chờ nàng dịu xuống, ánh mắt đỏ hoe ngước nhìn ta, tay không ngừng vuốt ve mặt ta:
“Sao lại cải trang thế này, những ngày qua có khổ không?”
Sự dịu dàng thân quen kia khiến lòng ta suýt tan rã. Nhưng ta nuốt xuống nghẹn ngào, cố cười:
“Khổ gì chứ, ta khỏe lắm, cải trang thế này vui mà, giống hiệp khách giang hồ, ha ha.”
Thấy ánh mắt nàng rõ ràng là không tin, ta vội đổi chủ đề, móc ra một bọc bạc nhét vào tay nàng:
“Tỷ tỷ mới là người khổ cực, sau này nhất định phải biết bảo vệ bản thân. Ta không thể tới luôn được, chỗ này cầm mà mua chút thịt ăn, gầy quá rồi đó.”
Minh Nguyệt xua tay, liên tục lắc đầu:
“Không lấy, ta không lấy!”
Nhưng giờ đây ta sức khỏe hơn nàng, nàng đẩy không nổi.
Ta nhét vội vào tay áo nàng, rồi ba bước chạy xa, vẫy tay:
“Về đi thôi! Yên tâm, tên đó không dám quay lại đâu!”
Minh Nguyệt hình như còn định nói gì, nhưng ta không thể nấn ná.
Ta rón rén bước, men theo mấy khúc quanh, ẩn mình tiến vào hậu viện một tiệm thuốc.
Ngó trước ngó sau, trên dưới kiểm tra kỹ, ta mới đẩy cửa.
Vừa mở ra, Tôn tướng quân khoanh tay đứng đó, mặt không biểu cảm:
“Lại lén lấy đao của ta.”
Ta cười toe, khép cửa, đi nghênh ngang vượt qua hắn.
Tiếng nghiến răng của tướng quân vang phía sau, oán trách không ngớt:
“Ngươi không thể yên phận chút sao? Dọc đường cứu mỹ nhân hoài không mệt à?
Giờ đã vào thành Nam Kinh, đầu rơi chỉ trong một khắc, đừng ép ta viết thư mách sư phụ Minh Quang của ngươi nữa…”
…
Đường đi này, thực chẳng dễ.
Ta cũng không rõ bản thân đã vượt qua thế nào. Ta cõng tướng quân, dầm sương dãi nắng, thảm hơn ăn mày.
Đôi lần, giữa dòng nước lạnh, ta nghĩ: “Thôi ch.ết quách cho rồi.”
Nhưng quay lại nhìn tướng quân kéo cái chân què đi nhóm lửa nấu cơm, tim ta lại mềm.
“Đi tiếp đi thôi.” Ta tự nhủ.
Dù có ch.ết, thì con đường ấy vẫn phải đi hết mới được.
Không ngờ, đi rồi lại ra được một lối sống.
Người của tướng quân cuối cùng cũng tìm ra chúng ta.
Đúng lúc đám cựu binh vô chủ định liều mình tạo phản vì muốn báo thù cho hoàng tôn, thì lại nghe tin ta hôm ấy thoát ch.ết, mang hoàng tôn ẩn thân trong Phật tự chốn sơn lâm.
Qua một phen gian nguy, A Tiềm đã trưởng thành. Không còn hấp tấp mù quáng, xử việc cũng dần ra dáng thái tử Chiêu Càn năm xưa.
Tôn tướng quân nghe tin ấy, lập tức khóc như mưa.
Vì nợ ta một mạng, hắn không dám đánh ta nữa, liền hóa thành bà mẹ già, suốt ngày mắng nhiếc trách móc, chuyện gió thổi lá rơi cũng viết thư mách cho Kiều Thích.
Kiều Thích cũng chịu thua, bảo:
“Yến nhi còn nhỏ, để trải đời thêm cũng tốt.”
Tôn tướng quân thở dài:
“Không sinh con gái, chẳng biết tâm khổ làm cha.”
…
Có lần tướng quân nhìn ta, nghiêm nghị khuyên nhủ:
“Cứ làm anh hùng mãi đi, đợi ngày bị đánh sưng mặt thì mới tỉnh ra thôi.”
Ta đặt đao xuống, hiểu rằng vào Nam Kinh rồi phải cẩn trọng, bèn nói:
“Lần cuối thôi. Nhưng…”
Ta liếc nhìn, mắt sáng như lưỡi kiếm.
“Lần này cuối cùng, tướng quân phải giúp ta một tay.”
Tướng quân nhíu mày:
“Lại định gây chuyện gì nữa?”
…
Nửa đêm.
Ta vênh mặt mượn oai hùm, kéo theo Tôn tướng quân đến gõ cửa tên Tiền lão tam.
Chưa hết nửa nén nhang, ta vỗ tay thong dong rời đi.
Phía sau, Tiền lão tam sợ đến ướt cả quần, mặt mày trắng bệch.
Vài ngày sau nghe tin, cả nhà hắn dọn đi biệt xứ.
Ta rất vừa lòng.
Tôn tướng quân thì cạn lời.
…
19
Gió trong thành Nam Kinh mỗi lúc một gắt.
Mùa đông năm ấy, Tuyên Đế bệnh nặng, hôn mê ngay tại triều.
Dân gian rộ lên lời đồn:
“Tuyên Đế không xong rồi. Anh Vương chẳng được lòng dân. Ngai vàng sớm muộn cũng về tay hoàng tôn nắm ngọc tỷ truyền quốc.”
…
“Ngọc tỷ truyền quốc có thật chăng?”
Ta giả dạng lưu manh chợ búa, gác lưng vào tường, nhả vỏ hạt dưa, hạ thấp giọng:
“Thật đó. Đám cẩm y vệ bắt mãi không ch.ết, lần nào cũng sống sót về.”
Ta làm ra vẻ huyền bí, len lén chỉ lên trời:
“Trời còn độ cho mà.”
Đám người chợ nghe xong, gật đầu lẫm liệt:
“Dẫu sao cũng là hoàng tôn thánh tử, giọt m.áu của Thái tử Chiêu Càn. Từ ngày hắn đến Nam Kinh, chẳng còn động đất. Lũ lụt ở Diệp Châu cũng không có. Năm nạn đói ở Thanh Châu, có kẻ giang hồ bí ẩn mang lương cứu tế, nghe đâu là thủ hạ của hoàng tôn.”
“Phải đó! Nghe nói lúc chào đời, núi Tử Vân còn có rồng xuất hiện nữa!”
Đám đông xôn xao thán phục.
Ta suýt sặc hạt dưa ra lỗ mũi, vội ho khan.
“Rồng thì hơi quá rồi…”
Quả không hổ là Kiều Thích từng trải bão giông, dựng lời đồn còn thuyết phục hơn ta nhiều.
…
Lời đồn truyền vào cung, Triệu thị và Hồng Trung càng lúc càng rối loạn. Họ không thể chờ thêm.
Hôm nhận tin từ nội thị: Hồng Trung định gi.ết vua lập Anh Vương, Tôn tướng quân lau đao tới sáng.
“Bảo kiếm cuối cùng cũng đến lúc xuất vỏ, sắt ngựa băng tuyết, mộng đạp thiên quân.”
Tướng quân nhìn ta, trầm giọng:
“Yến nhi, sợ không?”
Ta bước ra, toàn thân hắc y, rút thanh kiếm tuyết từ Yến Bắc do Kiều Thích rèn riêng cho, ánh thép lạnh phản chiếu đôi mắt cháy lửa.
“Sợ thì là cháu!”
Nay ta đã giương nổi đại cung rồi!
Tướng quân cười to:
“Tốt! Có khí phách!”
…
Chuyển cảnh…
Ta bị nhét bên cạnh A Tiềm, xung quanh toàn hán tử như núi.
Danh nghĩa là “bảo hộ hoàng tôn”.
A Tiềm giờ cao lớn tuấn tú, ngồi ngựa nhìn ta:
“Biểu cảm gì đó? Cảm thấy bảo vệ ta là tủi thân à?”
Ta cúi gằm:
“Người cần ta bảo vệ sao…”
Một tiếng cười nhẹ vang bên tai, A Tiềm nhìn ta, ánh mắt trân trọng:
“Ta cần.”
Ta ngơ ngẩn ngẩng đầu, giây lát sau, mắt sáng long lanh, chắp tay hô:
“Tốt! Yến nhi thề ch.ết trung thành với điện hạ!”
….
Ầm ầm!
Hoàng cung, cánh cổng lớn do người của Kiều Thích sắp đặt, mở ra.
Trên đỉnh núi, ánh dương đầu đông chiếu rọi, tường son ngói biếc, nghênh đón trận tuyết đầu tiên.
20
Anh Vương tạo phản, hoàng tôn dẫn theo cựu thần của Thái tử vào cung, thanh trừ gian đảng.
Khi đoàn quân nghiêm chỉnh, hùng tráng tiến vào ngự đạo thành Nam Kinh, bách tính hai bên đều sững sờ, rồi chẳng biết từ bao giờ, dân chúng tự động vác binh khí, đi theo sau đội quân.
Lòng dân như nước, có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền.
Phí Hoán cũng ở trong đám người ấy.
Thuở đầu hắn chẳng có binh khí trong tay, may thay vài huynh đệ bến tàu nhận ra, ngẩn người một thoáng rồi không nói một lời, chia cho hắn một chiếc xẻng sắt.
Phí Hoán nắm chặt chiếc xẻng còn vương hơi ấm, ngẩng đầu nhìn những hán tử nghèo khó mà hắn từng coi thường:
“Đa tạ.”
Họ cười:
“Khách sáo gì.”
….
Vậy nhưng, biển m.áu cung biến mà người ta tưởng tượng… lại không xuất hiện.
Hoàng tôn mang lòng nhân của bậc minh quân, không nỡ khiến lê dân vô tội chịu liên lụy. Lần vào cung này, là để bình thiên hạ, mưu phúc cho dân, không phải để tàn sát lẫn nhau.
Có minh quân trước, mới có thần tử trung dũng sau.
Triều nội bền vững. Triều ngoại một lòng.
Vạn dân hô vạn tuế.
Ngay lúc ấy, giữa ánh dương rực rỡ, Phí Hoán ngẩng đầu thấy Yến nhi bên cạnh hoàng tôn.
Nàng gầy đi, dung nhan điểm phong sương, nhưng ánh mắt lại kiên cường, sáng ngời, tràn đầy dũng khí cùng hy vọng.
Thật ra, Phí Hoán biết nàng ở Nam Kinh. Hôm Minh Nguyệt hồn bay phách lạc ôm bạc trở về, hắn hỏi vài câu là rõ.
Yến nhi giả trang hành tẩu giang hồ.
Nghe như giấc mộng.
Nàng từng là con chim trong lồng của hắn, mười ngón không chạm nước xuân, không chịu gió mưa, yếu ớt như cành liễu.
Ấy thế mà, chỉ vì một thoáng kiêu căng của hắn, nàng đã học cách vùng vẫy.
Không cần hắn buông tay.
Không cần hắn ban cho mưa móc.
Nàng tự tay chặt xiềng xích, tìm ra con đường sống.
Dẫu con đường ấy gai góc um tùm, nàng vẫn vấp ngã, rướm m.áu, rồi cuối cùng học cách bay.
Can đảm vượt mưa gió, lướt giữa rừng sâu bão táp.
Cuối cùng, chẳng thua gì phượng hoàng hay đại bàng chín tầng mây.
Thật tốt.
Phí Hoán mỉm cười nhẹ.
….
Sau khi khống chế Triệu thị và thái giám Hồng Trung, A Tiềm sai người nhốt Anh Vương đang điên cuồng chửi mắng.
Ta theo chân A Tiềm bước vào ngự điện.
Sau tấm màn loan sàng, Tuyên Đế tóc bạc da mồi, sinh cơ tàn tạ. Ông biết chuyện gì đang diễn ra, nhưng mắt mờ chẳng phân nổi ai.
Hắn mơ hồ hỏi, giọng yếu như tơ:
“Thái tử ca ca… ngươi đến lấy mạng ta sao…”
A Tiềm trầm lặng nhìn vị hoàng đế tuổi già sức yếu, theo vai vế phải gọi là hoàng thúc.
Thuở trước, A Tiềm từng căm hận người này đến tận xương, nay lại lặng lẽ không cảm xúc.
“Mạng của ngươi? Đồ vô dụng, giữ lại làm gì.”
Hắn hạ màn, chẳng buồn nhìn thêm một khắc.
Giọng lạnh như sương:
“Giang sơn ngươi không giữ nổi, thì trả lại cho ta.”
Ta nhìn theo A Tiềm từng bước rời đi, mỗi bước vững chãi hơn trước, bước vào con đường mà Thái tử Chiêu Càn – phụ thân hắn từng đi.
…
Một hồi chính biến, cuối cùng kết thúc trong hòa bình.
Ta hít một hơi thật sâu, bước ra bên ngoài, tựa lan can, gần như lơ lửng thân người, kiễng chân ngắm quy mô vĩ đại của hoàng cung.
Phía sau có giọng bất đắc dĩ vang lên:
“Gan nàng càng lúc càng lớn, xem ra Tướng quân chẳng nói sai.”
Ta quay lại, thấy Kiều Thích.
Đã lâu không gặp, huynh ấy vẫn một thân bạch y, thanh thoát như thoát tục giữa bụi trần.
Ta nhảy xuống, gọi khẽ:
“Kiều ca.”
Huynh ấy đi đến, giúp ta chỉnh lại tóc mai, rồi hỏi:
“Nàng định làm gì kế tiếp? Ở lại Nam Kinh, hay về Thấp Châu?”
Ta trầm ngâm một khắc, rồi thành thật:
“Ta chẳng muốn ở đâu cả. Muốn đi đến những chốn chưa từng đặt chân, ngắm muôn cảnh trong sách vở.”
Huynh ấy gật đầu:
“Tốt.”
Ta hơi ngạc nhiên:
“Huynh không thấy ta quá tùy hứng ư?”
Huynh ấy cũng học ta, chống lan can ngẩng đầu đón gió.
Ngọn gió tự do vờn qua gương mặt huynh ấy, khiến ta bỗng nhớ lại chuyện nhỏ khi còn bé.
Kiều Thích ban đầu không tên là Kiều Thích, cha mẹ không kỳ vọng khoa bảng công danh, cũng chẳng muốn thoát tục tu hành.
Chỉ mong điều đơn giản giống như mọi bậc phụ mẫu trong thiên hạ:
Cầm kiếm, uống rượu, đánh cờ, chơi cầm, sống tiêu dao, vĩnh viễn không ưu phiền.
Sau này, sư phụ huynh ấy ban pháp danh Minh Quang, mong huynh ấy đại ngộ, đại quang minh, lại càng đè thêm trọng trách.
Huynh ấy đã đi qua hồng trần quá đỗi mỏi mệt.
Bởi vậy huynh ấy nói với ta:
“Nàng theo đuổi tự do, không có gì sai cả.”
Huynh ấy nhìn ta dịu dàng:
“Trần thế như lồng giam. Ta chỉ mong nàng được tự do vô biên.”
…
Vù vù…
Gió lớn tung bay trên mái vàng son, một cánh chim từng bị nhốt trong lồng, giờ đây đã bay ra ngoài.
Nó dang đôi cánh yếu ớt, cầu xin gió đừng ngừng lại.
Nó muốn ngắm nhìn giang hồ thật xa.
[Toàn văn kết thúc.]