Một Đời Ba Cái Tên - Chương 1
Năm ta lên bảy, thầy tướng số nói rằng năm mười ba tuổi, ta sẽ ch*t một lần.
Mẫu thân sợ đến tái mặt, ông ta lại cười bảo:
“Không phải là người ch*t, mà là tên.
“Cả đời nàng có ba cái tên — cái tên đầu tiên quá nhẹ, chẳng thể bảo vệ tính m-ạng; cái tên thứ hai quá nặng, phải dùng một m-ạng người để trấn áp.
“Còn cái tên thứ ba, phải đợi đến khi chẳng còn ai bên cạnh, mới có người thay nàng đặt tên.”
Phụ thân nghe xong thì cười ha hả.
“Một nha đầu thôi mà, lớn lên chẳng qua cũng chỉ đổi từ con gái nhà này thành con dâu nhà khác, sao lại có lắm cái tên đến thế?”
Sáu năm sau, lời thầy tướng số quả nhiên ứng nghiệm.
Khói lửa chiến tranh lan đến tận đường dịch trạm, phụ mẫu ta đều không thể thoát ra khỏi biển lửa, ngay cả hộ tịch của ta cũng bị thiêu thành tro bụi.
Trên đời này không còn A Mãn nữa, nhưng ta vẫn còn sống.
Ta theo dòng người chạy nạn xuôi về phương Nam. Khi đến Nhạn Hồi Quan, lính canh cửa ải chỉ lạnh lùng nói một câu:
“Không có hộ tịch, không có lộ dẫn, không được vào thành.”
Đêm ấy, tuyết lớn phủ kín thành trì.
Đến khi trời sáng, dưới chân tường thành đã có bảy người ch*t.
Người trẻ tuổi nhất cũng trạc tuổi ta, trong lòng còn giấu một tờ quan điệp qua ải.
Ta gỡ những ngón tay của nàng ta ra, lấy tờ giấy ấy.
Tên lính canh mở ra xem một lượt.
“Hứa Tri Vi?”
Ta vượt qua vai hắn, nhìn về phía Hứa Tri Vi thật sự đang nằm trong tuyết.
“Là ta.”
1.
Sau khi vào được Nhạn Hồi Quan, ta mới biết có lộ dẫn cũng chẳng thể đổi thành cơm ăn.
Trong thành chật ních dân chạy nạn. Miếu hoang không còn chỗ ngủ thì ngủ dưới mái hiên, mái hiên cũng chẳng chen nổi nữa thì co ro dưới chân tường.
Người sống kẻ ch*t nằm ngổn ngang khắp nơi. Trời lạnh lẽo qua một đêm, ai không thể bò dậy nữa cũng chẳng có mấy người buồn liếc mắt nhìn thêm.
Ta đã nhịn đói sáu ngày. Ngửi thấy mùi cháo, ta lần theo hương thơm, tìm đến lều phát chẩn.
Trước lều đặt hai chiếc nồi lớn, hơi nóng bốc lên nghi ngút. Hàng người xếp dài từ đầu phố đến tận đầu ngõ.
Khó khăn lắm mới đến lượt mình, tên sai dịch múc cháo lại chẳng động tay, chỉ chìa tay ra trước mặt ta.
“Thẻ bài.”
Ta nghe chẳng hiểu.
Người phía sau mất kiên nhẫn, chen ta sang một bên: “Mộc bài! Mộc bài được phát lúc nhập quan ấy!”
Bấy giờ ta mới cuống quýt đi tìm mộc bài.
Hôm qua, viên thư lại ở cửa ải đã dựa theo quan điệp, khắc cho ta một miếng mộc bài mỏng.
Trên đó có ba chữ, ta không nhận biết hết.
“Hứa Tri Vi.” Tên sai dịch cầm lấy, lật sổ sách rồi hỏi: “Hứa Tri Vi, người Bình Châu?”
Tim ta chợt đập thình thịch, nhưng vẫn gật đầu.
Hắn cũng chẳng hỏi thêm, chỉ múc cho ta nửa bát cháo nhỏ.
Cháo loãng đến mức dưới đáy bát chỉ có vài hạt gạo.
Dẫu vậy, ta vẫn ôm bát, ngồi xổm xuống dưới chân tường, từng ngụm từng ngụm uống cạn. Cuối cùng, ngay cả đáy bát cũng bị ta dùng lưỡi l-iếm sạch.
Thứ nóng hổi vào bụng, ta mới cảm thấy mình sống lại được đôi chút.
Ta đang tính xem liệu có thể xếp hàng thêm một lần nữa hay không, phía trước bỗng nhiên náo loạn.
Một phụ nhân dắt theo hai đứa trẻ qu-ỳ sụp xuống đất.
“Quan gia, xin ngài thương xót, ban cho con trẻ một miếng ăn! Ba ngày rồi, thật sự đã ba ngày chúng ta chưa có gì bỏ bụng!”
Tên sai dịch chẳng buồn ngẩng đầu.
“Thẻ bài.”
Phụ nhân ấp úng, chẳng biết phải đáp thế nào.
Bà ta nói phu quân đã ch*t trên đường chạy nạn, nhà cửa lại gặp binh họa, hộ tịch từ lâu đã chẳng biết thất lạc nơi nào.
“Chúng ta thật sự là người thôn Thạch Kiều, huyện Phong Hà! Không tin ngài cứ tra xét! Cha ta tên Vương Đại Hữu, phu quân ta tên là…”
“Được rồi, được rồi!”
Tên sai dịch bị bà ta làm phiền đến nhức cả đầu, dùng cán muôi gõ vào thành nồi.
“Mỗi ngày có đến mấy trăm người, ai cũng nói mình có tên có họ. Chẳng lẽ ta phải lần lượt tra xét tổ tông từng người một hay sao?”
Phụ nhân cuống quýt dập đầu: “Nhưng chúng ta đang ở ngay đây mà! Người sống sờ sờ ra đó, sao lại không tra ra được chứ?”
Tên sai dịch lật mấy trang sổ sách.
“Trong sổ không có, tức là không có.”
Phía sau còn bao người chờ lĩnh cháo, hắn liền dùng chân gạt phụ nhân sang một bên.
Chiếc bát trong tay bà ta rơi xuống đất, chút nước cháo còn sót lại đều đổ vào bùn.
Hai đứa trẻ đói đến mức mắt đỏ ngầu, lập tức cúi rạp xuống ăn bùn.
Đứa lớn chừng tám, chín tuổi, bới được một hạt gạo từ trong bùn, bản thân còn chẳng nỡ ăn, đã vội nhét vào miệng muội muội trước.
Cổ họng ta nghẹn lại, không nhịn được đưa tay sờ lên mộc bài trong ngực.
Nếu hôm qua ta không lấy được tờ quan điệp trên người kẻ ch*t, có lẽ hôm nay, người đang nằm rạp trong bùn l-iếm cháo chính là ta.
Đúng lúc ấy, phía sau lều bỗng vang lên một tiếng “rầm”.
Một hán tử đang chuyển lương thực bị ngã, bao lương trên vai cũng rơi xuống đất, miệng bao bung ra, hạt kê vãi đầy mặt đất.
Người quản sự trông thấy, đau lòng đến mức mặt mày co rúm.
“Ngươi đ-i-ê-n rồi hay sao! Đây đều là lương thực đấy!”
Ông ta vừa m-ắng vừa sai người thu gom lương thực.
Ta cũng vội vàng nhào tới.
Nào ngờ vừa ngồi xổm xuống đã bị ông ta túm cổ áo, nhấc bổng lên.
“Đi, đi, đi! Ngươi gầy đến còn chẳng có mấy lạng thịt, lương chưa nhặt được bao nhiêu, nhỡ lại vùi cả người mình vào đó thì sao?”