Một Đời Ba Cái Tên - Chương 2
Ta vội nói: “Ta có thể làm việc.”
“Ngươi khiêng nổi lương thực à?”
Ta lắc đầu: “Không khiêng nổi.”
Ông ta liếc ta một cái.
“Thế thì ngươi làm được cái gì?”
Ta lập tức nói tiếp: “Nhưng ta biết tính toán.”
Bấy giờ ông ta mới dừng lại.
“Ngươi?”
Ta gật đầu.
Trước kia, phụ thân ta trông coi dịch trạm. Mỗi tháng nhập bao nhiêu cỏ khô, cho bao nhiêu con ngựa ăn, còn dư lại bao nhiêu, ta đều từng giúp người tính qua.
Người quản sự nửa tin nửa ngờ, chỉ đống lương thực chất bên tường.
“Vậy ngươi nói xem, còn lại bao nhiêu bao?”
Ta đếm đi đếm lại hai lượt.
“Bốn mươi bảy bao nguyên vẹn.”
Sau đó, ta lại ngồi xổm xuống nhìn chiếc bao bị rách dưới đất.
“Bao bị rách này ước chừng đã đổ mất hai phần, nếu tìm nhặt lại, vẫn có thể thu được tám phần.”
Người quản sự nheo mắt nhìn ta hồi lâu, lại hỏi:
“Biết chữ không?”
“Biết một ít.”
“Một ít là bao nhiêu?”
Ta thành thật đáp: “Chữ ‘lương’ thì ta nhận ra, số lượng cũng biết tính, còn những chữ khác phải xem vận may.”
Bên cạnh có người phì cười.
Người quản sự lại chẳng cười, chỉ tay vào trong lều.
“Vào đi. Bên trong đang thiếu người phụ kiểm đếm. Làm đến tối, ta bao cho ngươi một bữa cơm.”
Vừa nghe có cơm ăn, hai chân ta lập tức khỏe hẳn, vội vàng theo ông ta chui vào trong lều.
2.
Bên trong lều ấm hơn bên ngoài đôi chút, nhưng cũng chẳng ấm áp được bao nhiêu.
Ở chính giữa đặt một chiếc bàn gỗ cũ, một góc bàn đã sứt mất một mảnh. Ba quyển sổ phát chẩn chồng lên nhau trên mặt bàn.
Phía sau bàn là một lão thư lại chừng sáu mươi tuổi, tay áo bông đã sờn bạc, đang cúi đầu gảy bàn tính.
Người quản sự đẩy ta đến trước mặt ông ấy.
“Chú Hà, ta kiếm cho chú một đứa biết tính toán đây.”
Lão thư lại họ Hà ngẩng đầu nhìn ta.
“Bao nhiêu tuổi?”
“Mười ba.”
“Biết chữ không?”
Ta còn chưa kịp mở miệng, người quản sự đã thay ta đáp:
“Nó nói còn phải xem vận may.”
Lão thư lại Hà khịt mũi một tiếng.
“Vậy để xem hôm nay vận may của ngươi có tốt hay không.”
Ông ấy ném cho ta một đoạn than, bảo ta ngồi ở góc bàn.
Công việc của ta chẳng khó khăn gì. Bên ngoài cứ phát ra một thùng cháo, sẽ có người vào báo một tiếng, ta liền thêm một vạch lên giấy.
Cứ mười vạch thì gom thành một nhóm, năm mươi vạch lại ghi thêm một con số.
Việc này ta đã quen tay.
Trước kia, mỗi lần dịch trạm nhập cỏ khô, phụ thân lười ghi chép từng bao một, cũng thường bảo ta giúp người tính theo cách ấy.
Ban đầu, lão thư lại Hà vẫn còn để mắt đến ta.
Qua hai lượt, thấy ta không tính sai, ông ấy liền mặc kệ, tự mình ôm sổ sách, lần lượt đối chiếu từng cái tên.
Sai dịch bên ngoài gọi một tiếng, người đến lĩnh lương thực liền đáp một tiếng.
“Triệu Nhị Lang!”
“Có!”
“Lâm Chu thị!”
“Có!”
“Trần A Quý!”
Bên ngoài không ai đáp lời.
Tên sai dịch lại lớn tiếng gọi thêm một lần.
Vẫn chẳng có ai.
Lão thư lại Hà bèn dùng bút chấm một dấu nhỏ phía sau cái tên ấy.
Ta nhìn một hồi, cuối cùng không nhịn được hỏi:
“Không có ai đến lĩnh, vì sao vẫn giữ lại cái tên ấy?”
“Hôm nay không đến, biết đâu ngày mai sẽ đến.”
“Nếu người đó ch*t rồi thì sao?”
Lão thư lại Hà chẳng buồn ngẩng đầu.
“ch*t rồi, tự khắc sẽ có người đến báo.”
Ông ấy nói nhẹ tênh, nhưng ta lại nhớ đến bảy th-i th-ể dưới chân tường thành.
Bọn họ từ đâu đến, trong nhà còn những ai, e rằng ngay cả sai dịch phụ trách thu dọn cũng chẳng buồn hỏi han.
Ta không nói thêm nữa.
Sau giờ Ngọ, người đến lĩnh cháo đã ít đi đôi chút.
Phụ nhân ban nãy vẫn chưa rời đi.
Bà ta dẫn theo hai đứa trẻ co ro bên mép lều, chỉ chờ người ta ăn xong, trả lại bát.
Có người ăn xong, dưới đáy bát còn sót lại chút nước canh, bà ta liền tươi cười khép nép xin lấy, đổ vào chiếc bát mẻ của mình.
Gom góp cả nửa ngày, mới được một lớp nước cháo mỏng manh.
Đứa lớn bưng bát đưa cho muội muội trước.
Tiểu nha đầu đói đến cùng cực, ôm bát ngửa đầu tu ừng ực, sặc đến nước mắt trào ra, hai tay vẫn siết chặt lấy miệng bát không chịu buông.
Ta nhìn một lúc, cuối cùng vẫn không nhịn được mà hỏi:
“Chú Hà, thật sự không thể để bọn họ lĩnh cháo sao?”
“Ai cơ?”
Ta hất cằm về phía bên ngoài.
Lão thư lại Hà chỉ liếc mắt một cái, liền đáp: “Không có thẻ bài, không được lĩnh.”
“Nhưng bà ấy đã nói mình là người thôn nào rồi mà?”
“Há miệng ra thì ai chẳng nói được?”
“Vậy sao không tra xét thử?”
Lão thư lại Hà cuối cùng cũng ngẩng đầu lên.
“Huyện Phong Hà đã bị binh lính giày xéo hai lần, ngay cả huyện nha còn chẳng biết có tồn tại hay không, ngươi bảo ta đi đâu tra xét?”
Ta bị ông ấy hỏi đến nghẹn lời.
Ông lật sang một trang sổ khác, lại nói: “Hơn nữa, bên trên dựa theo sổ sách mà cấp phát lương thực. Trong sổ ghi ba nghìn người, thì chỉ cấp khẩu phần cho ba nghìn người.”
“Hôm nay ngươi thêm một người, ngày mai thêm hai người, đến cuối tháng thiếu mất mấy chục thạch lương, ngươi đền hay ta đền?”
Ta nhỏ giọng đáp: “Nhưng người đang ở ngay bên ngoài mà.”
Lão thư lại Hà nghe vậy, chỉ cười nhạt một tiếng.
“Người đứng ngoài kia nhiều lắm. Mỗi ngày ở cổng thành còn có hơn mười thi thể bị khiêng ra ngoài đấy.”
Nói xong, ông lại cúi đầu, chẳng buồn để ý đến ta nữa.
Ta cũng chẳng còn lời nào để nói, chỉ đành tiếp tục ghi chép số lượng.
Trời chạng vạng, người quản sự bước vào, trong tay cầm hai chiếc bánh ngô trộn bột tạp.
Ông ta ném cho ta một chiếc.
“Hôm nay không tính sai, thưởng cho ngươi.”
Bánh ngô vẫn còn nóng.
Sáu ngày rồi ta chưa được ăn thứ lương thực khô ráo thế này, thực lòng chẳng nỡ ăn hết một lần, chỉ bẻ xuống một miếng nhỏ, nhét vào miệng nhai chậm rãi.
Thế nhưng mới ăn được hai miếng, bên ngoài đột nhiên vang lên một tiếng hét thất thanh.
Ta vội chạy ra xem.
Phụ nhân kia đang ôm đứa con lớn trong lòng. Cả người đứa trẻ đã mềm nhũn, sắc mặt trắng bệch đến đáng sợ.
Bà ta vừa bấm nhân trung cho con, vừa khóc lóc gọi:
“Cẩu Nhi! Cẩu Nhi, mau tỉnh lại!”
Có người bên cạnh đưa tay thử hơi thở của đứa trẻ.
“Vẫn còn thở. Là do đói quá thôi, cho uống chút canh nóng, có lẽ sẽ đỡ.”
Nghe vậy, phụ nhân lập tức ôm con, nhích từng bước về phía nồi cháo.
Tên sai dịch lại ngăn bà ta lại.
“Đã nói bao nhiêu lần rồi, không có thẻ bài thì không được lĩnh!”
Bà ta cuống quýt đến mức nước mắt rơi lã chã.
“Nó đã thành ra thế này rồi, cho một miếng cũng không được sao?”
“Hôm nay ta cho ngươi, ngày mai cả đám người trong lều này đều kéo đến đòi thì sao?”
Hai bên đang giằng co, ta cúi đầu nhìn chiếc bánh ngô trong tay.
Cuối cùng, ta vẫn bước tới, nhét hơn nửa chiếc bánh còn lại vào tay phụ nhân.
Bà ta ngây người.
“Cô nương…”
Ta chẳng đợi bà ta nói hết, đã quay đầu trở vào trong lều.
Sau khi ngồi xuống, bụng ta réo còn dữ dội hơn lúc trước.
Lão thư lại Hà đang thu dọn sổ sách, nghe thấy tiếng bụng ta liền ngẩng đầu nhìn một cái.
“Nỡ lòng sao?”
Ta cúi đầu, liếm đi chút vụn bánh ngô dính trên đầu ngón tay.
“Không nỡ.”
“Vậy sao còn cho?”
Ta im lặng một lúc mới đáp: “Nếu cứ đói tiếp, đứa trẻ ấy thật sự sẽ ch*t mất.”
Lão thư lại Hà không hỏi thêm, chỉ khép quyển sổ nằm trên cùng lại.
Ta thuận tay giúp ông đè xuống góc giấy đang cong lên.
Đang định rụt tay về, ta bỗng trông thấy trang cuối cùng chỉ ghi hơn mười cái tên, phía dưới vẫn còn bỏ trống một khoảng rất dài.
Ta nhìn thêm hai lần.
Lão thư lại Hà lập tức giật quyển sổ về.
“Đừng nhìn lung tung. Trên này thêm một cái tên, bớt một cái tên, đâu phải chuyện nhẹ nhàng như ngươi dùng than gạch hai nét là xong.”
3.
Ngày hôm sau, trời còn chưa sáng, ta đã đến lều phát chẩn.
Không phải vì ta siêng năng, mà là sợ đến muộn, người quản sự sẽ đổi sang người khác ghi số lượng.
Bữa bánh ngô hôm qua còn chưa đủ giúp ta cầm cự qua một đêm, bụng ta đã sớm trống rỗng trở lại.
Lão thư lại Hà còn đến sớm hơn ta, đang ngồi sau bàn sưởi ấm hai tay.
Thấy ta bước vào, ông nhướng mắt.
“Lại đến à?”
“Hôm nay còn bao cơm không?”
Ông bật cười một tiếng.
“Làm việc thì có cơm.”
Bấy giờ ta mới yên tâm, ngồi xuống chỗ hôm qua.
Trước khi bắt đầu phát cháo, lão thư lại Hà đăng ký mấy người dân chạy nạn mới vào thành đêm qua.
Một lão hán khai quê quán:
“Huyện Phong Hà, thôn Hòe Thụ Câu.”
Lão thư lại Hà cầm bút viết xuống.
Ta đứng bên cạnh nhìn thật kỹ. Hóa ra hai chữ “Phong Hà” lại viết như thế này.
Đợi người kia rời đi, ta dùng đoạn than vẽ theo hai lượt trên giấy bỏ.
Lão thư lại Hà trông thấy, nhưng cũng chẳng ngăn cản ta.
Bận rộn đến giờ Ngọ, ta lại trông thấy phụ nhân hôm qua. Bà ta vẫn chưa rời đi.
Đứa trẻ lớn tên thật là Thạch Đầu. Tuy đã tỉnh lại, nhưng đi đứng vẫn còn loạng choạng.
Đứa nhỏ hơn thì ngồi xổm trong góc tường, nhặt những cọng rau người ta đã nhai qua rồi bỏ lại, đưa lên miệng gặm.
Lúc ta mang thùng rỗng đi qua, liền lén hỏi phụ nhân:
“Hai đứa trẻ nhà bà bao nhiêu tuổi?”
Bà ta không biết ta hỏi chuyện này để làm gì, nhưng vẫn trả lời:
“Thạch Đầu chín tuổi, Tiểu Hoa sáu tuổi.”
“Cả hai đều họ Vương?”
“Đều họ Vương.”
Ta lại hỏi quê quán của bọn họ thêm một lần.
“Huyện Phong Hà, thôn Thạch Kiều.”
Lần này, ta đã ghi nhớ kỹ.
Buổi chiều, bên kho lương sai người gọi lão thư lại Hà qua đối chiếu sổ sách.
Trước khi đi, ông còn gõ nhẹ lên bàn, dặn ta:
“Đừng có táy máy tay chân.”
Ta cúi đầu đáp: “Ta biết rồi.”
Đợi ông vừa ra ngoài, ta liền kéo quyển sổ phát chẩn đến trước mặt.
Trang cuối cùng vẫn còn chỗ trống.
Ta cầm bút, hồi lâu chẳng dám hạ xuống.
Hôm qua ông đã nói, thêm một cái tên hay bớt một cái tên, đều có thể bị đánh bằng trượng.
Nhưng vừa ngẩng đầu, ta đã trông thấy Thạch Đầu đang ngồi xổm bên ngoài.
Nó đói đến chẳng còn sức lực, muội muội khóc đòi ăn, nó vẫn phải dỗ dành con bé.
Ta nghiến răng, trước tiên viết thử lên giấy bỏ, bắt chước nét chữ của những người khác.
Vương Thạch Đầu, chín tuổi, huyện Phong Hà.
Dòng tiếp theo là Vương Tiểu Hoa, sáu tuổi, huyện Phong Hà.
Có mấy chữ ta không biết viết, đành lần lượt tìm trong những cái tên phía trước, rồi cẩn thận bắt chước từng nét.
Đợi đến khi viết xong cả hai dòng, sau lưng ta đã toát ra một lớp mồ hôi.
Vẫn còn thiếu thẻ bài.
Những mộc bài mới khắc được đặt trong chiếc sọt dưới gầm bàn. Ta mò ra hai miếng, lại lấy con dao nhỏ dùng để gọt bút than.
Hai chữ “Thạch Đầu” còn tương đối dễ khắc.
Chữ “Hoa” trong tên Tiểu Hoa lại phiền phức hơn nhiều. Ta khắc hỏng một miếng, đành lấy miếng khác làm lại.
Vừa quét những mảnh gỗ vụn vào trong tay áo, bên ngoài bỗng có người ho khẽ một tiếng.
Ta giật nảy mình.
Ngẩng đầu lên, hóa ra là người quản sự.
“Ngươi đang làm gì?”
Ta giấu hai tay ra sau lưng.
“Không làm gì cả.”
Ông ta nghi ngờ nhìn ta một lượt.
“Chú Hà đâu?”
“Đến kho lương rồi ạ.”
“Ông ấy về thì bảo đến hậu viện tìm ta.”
Nói xong, ông ta liền rời đi.
Hai chân ta mềm nhũn.
Đến lượt phát cháo cuối cùng vào buổi chiều, ta nhân lúc mang thùng đi qua, lén nhét hai tấm mộc bài vào tay phụ nhân.
Bà ta cúi đầu nhìn, ngẩn người hồi lâu.
“Cô nương, thứ này từ đâu…”
“Bà đừng hỏi.”
Ta hạ giọng dặn dò:
“Lát nữa gọi đến tên, bà cứ đáp lời là được.”
Phụ nhân siết chặt hai tấm mộc bài, vành mắt lập tức đỏ hoe.
Ta sợ bà ta sẽ quỳ xuống ngay tại chỗ, vội vàng quay người bỏ đi.
Không bao lâu sau, phía trước liền vang lên tiếng gọi:
“Vương Thạch Đầu!”
Phụ nhân cuống quýt đến mức giọng nói cũng lạc đi.
“Có!”
Tên sai dịch nhận mộc bài, đối chiếu với sổ sách.
Ta đứng trong lều, tim như treo lên tận cổ họng.
Hắn xem một hồi, rồi hỏi:
“Chín tuổi?”
“Vâng, vâng, chín tuổi.”
“Một bát.”
Cháo nóng được múc vào bát.
Thạch Đầu dùng cả hai tay ôm lấy, trước tiên uống một ngụm thật lớn.
Tên sai dịch lại gọi:
“Vương Tiểu Hoa!”
“Có!”
Lại thêm một bát cháo.
Tiểu Hoa uống quá vội, bị bỏng đến mức liên tục hít hà, nhưng vẫn ôm chặt bát không chịu buông.
Phụ nhân vừa vỗ lưng cho con, vừa lau nước mắt.
Ta nhìn cảnh ấy, bất giác cũng mỉm cười.
Hóa ra chỉ cần thêm hai dòng chữ vào sổ sách, thật sự có thể đổi lấy thêm hai bát cháo.
Niềm vui nhỏ nhoi ấy cứ thế chống đỡ cho ta đến tận khi trời tối.
Lúc lão thư lại Hà bắt đầu thu sổ, ta vẫn đang giúp ông thu xếp giấy tờ.
Ông lật đến trang cuối cùng, bàn tay bỗng khựng lại.
Nụ cười trên mặt ta cũng lập tức tắt ngấm.
Lão thư lại Hà nhìn hai dòng chữ ấy, rồi ngẩng đầu nhìn ta.
“Vương Thạch Đầu, Vương Tiểu Hoa.”
Ta cúi gằm mặt.
Ông dùng ngón tay chỉ vào trang giấy.
“Nét chữ này nguệch ngoạc như gà bới. Là ngươi viết phải không?”
Ta không dám hé răng.
Lão thư lại Hà lại hỏi một lần nữa:
“Ai viết?”
Ta đành thành thật nhận tội:
“Là ta.”
Trong lều yên lặng hồi lâu.
Ta đã bắt đầu tính toán xem sau khi bị đánh trượng, liệu mình còn có thể ở lại đây ăn cơm hay không.
Nào ngờ lão thư lại Hà không gọi người đến, chỉ khép quyển sổ lại.
“Đêm nay không được đi.”
Lòng ta chợt trầm xuống.
“Phải chịu bao nhiêu trượng ạ?”
Lão thư lại Hà liếc nhìn ta.
4.
“Ngươi cũng biết nghĩ đấy nhỉ.”
Ông kéo thêm hai quyển sổ cũ từ dưới gầm bàn ra.
“Trước tiên, tính cho rõ sổ sách đã.”
“Tính không rõ, rồi hẵng nói đến chuyện chịu trượng.”
Ta vốn tưởng chỉ cần tính rõ hôm nay đã phát đi bao nhiêu cháo là xong.
Nào ngờ lão thư lại Hà lại trải cả sổ phát chẩn, sổ xuất lương trong kho, cùng những tờ giấy ghi số lượng mà ta đã viết trong hai ngày qua ra trước mặt.
“Đối chiếu tất cả một lượt.”
Ta tính toán hồi lâu, lúc này mới phát hiện có điều bất thường.
Hôm nay thực tế đã phát ra hai nghìn bảy trăm sáu mươi ba phần cháo, nhưng trong sổ phát chẩn lại ghi có hai nghìn tám trăm mười chín người.
Thừa ra tận năm mươi sáu người.
Ta lại kiểm tra sổ xuất lương, số lương thực kho phát ra quả nhiên cũng đủ khẩu phần cho hai nghìn tám trăm mười chín người.
Ta ngẩng đầu: “Thiếu mất năm mươi sáu người.”
Lão thư lại Hà nói: “Tìm tiếp đi.”
“Tìm cái gì ạ?”
“Tìm xem năm mươi sáu người này rốt cuộc có ăn bát cháo ấy hay không.”
Ta đành lật từng trang sổ một.
Ban ngày, những cái tên được gọi mà chẳng ai đáp lời, ít nhiều ta vẫn còn nhớ.
Người đầu tiên chính là Trần A Quý.
Hôm qua gọi hai lần, hôm nay lại gọi thêm hai lần, nhưng đều chẳng có ai đáp lại.
Ta tìm thấy tên hắn, phía sau lại có một dấu son đỏ, giống hệt dấu của những người đã lĩnh cháo.
Ta tưởng mình nhìn nhầm, bèn hỏi: “Chú Hà, chẳng phải người này chưa từng đến sao?”
Lão thư lại Hà ghé qua nhìn một cái.
“Ừm.”
“Vậy sao lại ghi là đã lĩnh cháo?”
“Lật về trước xem.”
Ta lật đến ngày hôm qua, cũng có dấu son đỏ. Ngày trước nữa cũng vậy.
Liên tiếp bảy ngày, Trần A Quý ngày nào cũng lĩnh lương thực, nhưng hai ngày nay ta căn bản chưa từng thấy hắn xuất hiện.
Trong lòng ta bắt đầu thấy bất an.
“Có lẽ người nhà hắn lĩnh thay chăng?”
Lão thư lại Hà liếc ta một cái.
“Thẻ chẩn phát cho mỗi người một chiếc.”
“Vậy chắc là ta nhớ nhầm.”
“Hôm qua chính ngươi còn hỏi ta, vì sao gọi tên hắn mà chẳng ai đáp lời.”
Ta lập tức cứng họng.
Lão thư lại Hà lại bảo ta tìm tiếp.
Chẳng bao lâu sau, ta tìm ra thêm hai người.
Một người tên Lưu Tam Thuận, người còn lại tên Tôn Lão Thuyên.
Cả hai đều là những người khi được gọi tên thì chẳng ai đáp lời, nhưng trong sổ vẫn ghi rõ đã lĩnh cháo.
Ta càng xem càng cảm thấy không ổn.
“Rốt cuộc bọn họ đi đâu cả rồi?”
Lão thư lại Hà im lặng một lát, sau đó rút từ đống giấy cũ dưới chân ra một tờ giấy nhàu nhĩ.
“Tự xem đi.”
Đó là danh sách thu thi thể do sai dịch tuần phố đưa tới.
Ta không nhận biết hết những chữ trên đó, chỉ có thể chậm rãi tìm từng cái tên.
Đến dòng thứ hai, ngón tay ta bỗng khựng lại.
Trần A Quý, phía sau ghi rõ: ngày mười hai tháng Chạp, ch*t cóng tại miếu hoang phố Tây.
Ta ngẩng đầu.
“Hắn ch*t rồi sao?”
Lão thư lại Hà khẽ đáp một tiếng.
Ta lại nhìn sổ phát chẩn.
Hôm nay đã là ngày mười lăm tháng Chạp, nói cách khác, Trần A Quý đã ch*t được ba ngày.
Vậy mà trong ba ngày ấy, ngày nào hắn cũng đến lĩnh lương thực.
Ta lại tìm tên Lưu Tam Thuận, cũng phát hiện hắn đã ch*t, còn ch*t sớm hơn Trần A Quý một ngày.
Riêng Tôn Lão Thuyên thì không có tên trong danh sách thi thể.
Lão thư lại Hà nói, ngày thứ hai sau khi vào thành, hắn đã theo họ hàng đến phía Nam thành, từ lâu không còn lĩnh lương thực ở lều phát chẩn này nữa.
Thế nhưng trong sổ, hắn chưa từng bỏ sót một ngày lĩnh lương nào.
Ta ngồi trước bàn, hồi lâu chẳng nói được lời nào.
Ban ngày, phụ nhân kia vì hai bát cháo mà dập đầu đến trán rách toạc.
Ta lén thêm hai cái tên vào sổ, còn sợ đến mức nghĩ rằng mình sắp bị đánh bằng trượng.
Vậy mà những người đã ch*t từ lâu kia, lại chưa từng bỏ sót một bữa nào.
Lão thư lại Hà xếp mấy quyển sổ lại với nhau.
“Đã hiểu chưa?”
Ta gật đầu, rồi lại lắc đầu.
“Ai làm chuyện này?”
“Không biết.”
“Chú đã phát hiện từ lâu rồi sao?”
Ông nhìn ta một cái.
“Nếu chuyện gì ta cũng biết, vậy còn ngồi lì trong cái lều này, ngày ngày ghi số bát cháo cho người ta làm gì?”
Nói xong, ông ném tờ danh sách thi thể đến trước mặt ta.
“Từ ngày mai, ban ngày ngươi cứ nghe gọi tên. Ai được gọi mà không đáp thì ghi lại, buổi tối đem đối chiếu với sổ sách.”
Ta hơi do dự.
“Vậy còn Thạch Đầu và Tiểu Hoa…”
Lão thư lại Hà hừ một tiếng.
“Đã ghi vào sổ rồi, chẳng lẽ ngươi còn định cạo tên hai đứa trẻ ấy ra hay sao?”
Lúc này ta mới lén thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng ông lại bồi thêm một câu:
“Đừng mừng quá sớm. Còn dám tự ý thêm tên sau lưng ta, ta sẽ đánh gãy tay ngươi trước.”
Ta vội vàng gật đầu.
Từ ngày thứ hai trở đi, ta không chỉ ghi chép số cháo đã phát ra.
Ta còn đặc biệt ghi lại những người được gọi tên nhưng chẳng ai đáp lời.
Hết một ngày, trên góc tờ giấy lại có thêm sáu cái tên.
5.
Ngày thứ ba, ta vẫn như thường lệ, ngồi trong lều nghe gọi tên.
Trong sáu người ta ghi lại hôm qua, hôm nay đã có hai người xuất hiện. Một người hôm trước bệnh nặng đến mức không thể xuống giường, một người đã đến phía Nam thành tìm thân thích. Ngoài ra còn có một lão phụ nhân đến thay con trai làm thủ tục xóa thẻ, nói rằng người ấy đã qua đời vào đêm qua.
Ba người còn lại, ta cùng lão thư lại Hà đối chiếu danh sách thi thể và sổ nhập quan.
Một người đã ch*t cóng ở phố Bắc từ hai ngày trước, một người đã rời khỏi cửa Nam từ năm ngày trước, người cuối cùng thì từ lâu đã được điều đến lều phát chẩn phía Tây.
Lão thư lại Hà ném cho ta một quyển tự thiếp cũ.
“Bởi vậy mới bảo ngươi tra xét, chứ không phải bảo ngươi đoán mò.”
Ta gạch từng cái tên một, đang định khép sổ nhập quan lại thì khóe mắt bỗng lướt qua một dòng chữ.
Bình Châu, nữ, mười ba tuổi, Hứa Tri Vi.
Ban đầu ta còn tưởng mình nhìn nhầm, bèn ghé sát lại xem. Quả nhiên chính là ba chữ ấy.
Bên cạnh còn ghi ngày nhập quan: mùng bảy tháng Chạp.
Ta nhìn chằm chằm dòng chữ đó, đầu ngón tay dần trở nên lạnh buốt.
Ngày mùng bảy, ta vẫn còn đang trên đường đến Nhạn Hồi Quan.
Đêm mùng tám, tuyết lớn phong tỏa thành trì.
Đến sáng mùng chín, ta mới lấy được quan điệp của Hứa Tri Vi từ trong lòng thi thể nằm dưới chân tường thành.
Thế nhưng trong sổ nhập quan này, vào ngày mùng bảy, Hứa Tri Vi đã vào thành rồi.
Ta lập tức lật sang sổ phát chẩn, cũng có tên nàng.
Ngày mùng bảy một phần, ngày mùng tám một phần, cả hai ngày đều có dấu son đỏ xác nhận đã lĩnh lương thực.
Phía sau bỗng vang lên giọng lão thư lại Hà:
“Sao không tra tiếp nữa?”
Ta lập tức khép sổ lại, nhưng đã muộn.
Lão thư lại Hà bước đến bên bàn, cúi đầu nhìn một cái.
Sau đó, ông ngẩng lên nhìn ta.
“Chẳng phải ngươi nói mình tên Hứa Tri Vi sao?”
Ông dừng lại một chút.
“Vậy Hứa Tri Vi này là ai?”
6.
Tay ta vẫn đè trên trang sổ, hồi lâu chẳng dám ngẩng đầu.
Lão thư lại Hà đã xoay quyển sổ nhập quan về phía mình, dùng ngón tay chỉ vào ba chữ “Hứa Tri Vi”.
“Mùng bảy có một Hứa Tri Vi vào thành, mùng chín lại có thêm một người nữa.” Ông ngẩng đầu nhìn ta. “Nếu ngươi thật sự là nàng, vậy mạng ngươi cũng nhiều thật đấy.”
Cổ họng ta nghẹn lại.
“Có lẽ chỉ là trùng tên thôi.”
Lão thư lại Hà nhướng mắt nhìn ta.
“Cùng là người Bình Châu, cùng mười ba tuổi, cũng trùng hợp đến thế sao?”
Lần này, ta chẳng thể đáp lời.
Ông nhìn ta chốc lát, đột nhiên chìa tay ra trước mặt.
“Đưa mộc bài đây.”
Ta theo bản năng ôm chặt ngực mình.
Nếu mộc bài rơi vào tay ông, đừng nói đến chuyện ngày mai được làm việc, e rằng ngay cả nửa bát cháo loãng ta cũng chưa chắc lĩnh được.
Thấy ta bất động, lão thư lại Hà liền đưa tay mở cửa.
“Không muốn đưa cũng được, ta gọi sai dịch canh giữ cửa ải đến nhận mặt ngươi.”
Ta vội vàng ngăn ông lại, đành lấy mộc bài ra.
Lão thư lại Hà nhận lấy, liếc qua một lượt rồi đặt đè lên sổ nhập quan.
“Quan điệp từ đâu mà có?”
“Nhặt được.”
“Nhặt ở đâu?”
Ta mím chặt môi, không chịu nói thêm.
Lão thư lại Hà liếc nhìn ta, lại đưa tay về phía then cửa.
Ta đành nghiến răng đáp:
“Dưới chân tường thành, nhặt được trên người một cô nương ch*t cóng.”
Bấy giờ ông mới dừng tay.
“Nàng ta ch*t hôm nào?”
“Sáng mùng chín, ta tận mắt trông thấy nàng nằm trong tuyết.”
Lão thư lại Hà ngồi xuống lần nữa, không hỏi ta là ai nữa, chỉ cầm bút, xem đi xem lại dòng ghi chép ngày mùng bảy kia hai lượt.
Một lúc lâu sau, ông đột nhiên hỏi:
“Lúc ngươi lấy quan điệp của nàng ta, quan điệp vẫn luôn ở trên người nàng ta sao?”
“Nằm ngay trong lòng nàng. Ta phải bẻ tay nàng ra mới lấy được.”
Lão thư lại Hà cau mày.
Ta cũng chợt hiểu ra.
Sáng mùng chín, Hứa Tri Vi thật sự vẫn nằm ngoài thành cùng tờ quan điệp của nàng.
Thế nhưng trong sổ nhập quan ngày mùng bảy, đã có một Hứa Tri Vi vào thành từ trước.
Ta nhìn chằm chằm dòng chữ ấy, hỏi:
“Có người đã biết tên nàng từ trước rồi sao?”
“Đừng đoán mò.”
Lão thư lại Hà lục tìm dưới đáy tủ, lấy ra mấy tờ giấy rồi đưa cho ta.
Trên đó có tên Trần A Quý, Lưu Tam Thuận, cùng hơn mười cái tên khác mà ta chưa từng gặp.
“Những khoản sổ sách bất thường trong nửa tháng qua đều ở đây. Có người ch*t rồi mà vẫn lĩnh lương, có người đã rời đi từ lâu nhưng ngày nào trong sổ cũng có dấu son đỏ.”
“Ban đầu ta chỉ nghĩ có người trong lều phát chẩn giở trò ăn bớt, nào ngờ bây giờ lại xuất hiện thêm một người còn chưa vào thành mà tên đã có sẵn trong sổ nhập quan.”
Ông dùng bút vạch một đường bên cạnh ba chữ “Hứa Tri Vi”.
“Ngày mai phải đến phòng canh giữ cửa ải tra xét.”
Ta ngẩng đầu nhìn ông.
“Chú đã nghi ngờ sổ sách có vấn đề từ lâu, sao không đến nha môn báo quan?”
Lão thư lại Hà hừ lạnh một tiếng.
“Sổ phát chẩn nằm trong tay ta, năm mươi sáu người đối chiếu không khớp. Kẻ trộm còn chưa bắt được, huyện nha đã có thể hỏi ta mấy ngày nay có bị mù mắt hay không rồi.”
Lời này ta hiểu.
Nếu sổ sách thật sự xảy ra chuyện, ông không thoát được trách nhiệm.
Mà nếu thân phận giả của ta bị vạch trần, ta cũng chẳng chạy đi đâu được.
Ta nhìn mộc bài đang bị ông đè dưới tay.
“Ta giúp chú tra xét, chú đừng tiết lộ chuyện của ta.”
“Ta không rảnh che giấu cho ngươi cả đời.”
Lão thư lại Hà cất mộc bài vào trong tay áo.
“Trước tiên cứ làm rõ khoản sổ sách rối ren này đã. Nếu thật sự có người đến tra xét ngươi, đó là chuyện sau này.”
Ta vội vàng chìa tay ra.
“Vậy trả mộc bài cho ta.”
“Cứ để chỗ ta trước, kẻo nửa đêm ngươi bỏ trốn.”
“Ta bỏ trốn rồi, ngày mai lấy gì ăn?”
Lão thư lại Hà liếc ta một cái.
“Cũng phải.”
Miệng thì nói vậy, nhưng rốt cuộc ông vẫn không trả mộc bài cho ta, chỉ lấy một chiếc bánh ngô nguội ở góc bàn ném sang.
“Bữa tối của ngươi vẫn có phần. Ngày mai đến sớm một chút, theo ta đến phòng canh giữ cửa ải.”
Ta đón lấy bánh ngô, trong lòng vẫn chẳng thể yên ổn.
Lão thư lại Hà đã bắt đầu thu dọn sổ sách, chỉ dặn thêm một câu:
“Đến đó thì ít nói, nhìn nhiều. Có gì không hiểu, trở về rồi hỏi ta. Đừng để người ta nhìn ra sơ hở ngay trước mặt họ.”
Lúc này mới đúng là lời mà ngày thường ông vẫn hay nói.
7.
Sáng sớm ngày hôm sau, ta theo lão thư lại Hà đến phòng canh giữ cửa ải.
Ông lấy cớ số người trong lều phát chẩn đối chiếu không khớp, yêu cầu xem sổ chờ nhập quan từ đầu tháng.
Ta dựa theo tờ giấy hôm qua, lần lượt tìm xuống dưới.
Ngày mùng sáu, tên Lưu Tam Thuận vẫn còn được ghi là “chờ nhập quan”, nhưng trong sổ nhập quan cùng ngày, trạng thái đã biến thành “đã nhập quan”.
Những dòng tiếp theo cũng có tình trạng tương tự.
Khi lật đến tên Hứa Tri Vi, ngón tay ta chợt khựng lại.
Ngày mùng bảy và mùng tám, nàng vẫn còn nằm trong sổ chờ nhập quan.
Thế nhưng trong sổ nhập quan, nàng đã vào thành từ ngày mùng bảy, còn liên tiếp lĩnh lương thực hai ngày tại lều phát chẩn.
Ta theo bản năng định ngẩng đầu, nhưng dưới gầm bàn bỗng bị đá nhẹ một cái.
Lão thư lại Hà thậm chí chẳng buồn nhướng mắt.
Ta đành cúi đầu xuống, tiếp tục lật từng trang sổ.
Cuối mỗi trang đều có chữ ký xác nhận của người phụ trách.
Trong sáu khoản sổ sách bất thường, có đến năm khoản do cùng một người ghi chép.
Lão thư lại Hà chỉ chép lại mấy cái tên và ngày tháng ấy, sau đó khép sổ, làm như chẳng tra ra được gì, kẹp quyển sổ vào nách rồi đi ra ngoài.
Mãi đến khi rời khỏi phòng canh giữ cửa ải, vòng qua bức tường phía trước, ông mới lên tiếng:
“Ngày mùng bảy, Hứa Tri Vi đã được kiểm tra quan điệp, nhưng người vẫn còn chờ ở ngoài thành. Người canh giữ cửa ải đã từng xem quan điệp của nàng, đương nhiên biết nàng tên gì.”
Ta ngoái đầu nhìn phòng canh giữ cửa ải.
“Vậy nên bọn họ đã dùng tên nàng để ghi vào sổ nhập thành trước sao?”
“Đến tám, chín phần là vậy.”
Bước chân lão thư lại Hà không hề dừng lại.
“Nhưng trước mắt, chúng ta chỉ có thể chứng minh sổ sách đã bị người động tay động chân, vẫn chưa biết số lương thực ấy cuối cùng đã chui vào túi kẻ nào.”
Nói xong, ông rẽ sang một hướng khác, không quay về lều phát chẩn mà đi thẳng đến huyện nha.
Mãi đến khi trời tối, nha môn vẫn chẳng có động tĩnh gì.
Lều phát chẩn vẫn nhóm lửa, phát cháo, rồi thu dọn như thường lệ. Ngay cả sai dịch quản lý lương thực cũng chẳng phát hiện ra điều gì bất thường.
Đêm xuống, từng ngọn đèn trong lều lần lượt tắt đi.
Quả nhiên, cửa sau bị người từ bên ngoài đẩy mở.
Viên thư lại ở phòng canh giữ cửa ải lẻn vào trước, phía sau còn có tên sai dịch quản lý lương thực đi theo.
Hai người thậm chí chẳng thắp đèn, chỉ mò mẫm đến đống lương thực. Mỗi người vác một bao rồi mang ra ngoài.
Đến khi bao thứ ba vừa được khiêng lên xe, hai đầu ngõ bỗng đồng loạt sáng rực đuốc lửa.
Tên sai dịch quản lý lương thực chân mềm nhũn, lập tức quỳ sụp xuống đất.
Viên thư lại canh giữ cửa ải xoay người bỏ chạy. Nhưng hắn mới lao ra được vài bước đã bị nha dịch mai phục ở đầu ngõ nhào tới, đè ngã xuống nền tuyết.
Lần theo chiếc xe chở lương, đến ngày hôm sau, người ta lại thu hồi được bảy xe lương thực từ một khu viện bỏ hoang ở phía Tây thành.
Bọn họ sử dụng toàn tên thật. Có người ở ngoài thành đã được kiểm tra quan điệp, nhưng nhất thời chưa thể vào thành, bọn họ liền cho người chép tên ấy vào sổ sách trong thành trước, sau đó lĩnh thêm một phần lương thực từ lều phát chẩn.
Nếu người thật sự vào thành, khoản sổ sách giả ấy sẽ ngừng lại; còn nếu người đó ch*t ngoài thành, cái tên kia trái lại có thể tiếp tục được sử dụng mãi.
Lão thư lại Hà ném mộc bài của ta trở lại, sau đó đưa cho ta một tờ danh sách mới.
“Phía Nam thành sắp tiến hành kiểm tra lại những dân chạy nạn không có hộ tịch.”
Ta vừa mới thở phào nhẹ nhõm, ông đã chỉ vào hai cái tên trên giấy.
Vương Thạch Đầu, Vương Tiểu Hoa.
“Đây là hai cái tên ngươi tự ý thêm vào. Ngày mai, phải xác minh rõ thân phận của chúng trước.”
8.
Mẫu thân của Thạch Đầu đã tìm được một đôi vợ chồng họ Trần cùng thôn ở phía Nam thành.
Ngày hôm sau, khi tiến hành kiểm tra lại danh sách, lão hán họ Trần đã kể rõ ràng phu quân của bà ta ở nhà nào, lúc nhỏ Thạch Đầu từng ngã từ cây nào xuống khiến trán bị thương.
Lão thư lại Hà lại lấy sổ phát chẩn cũ ra, đối chiếu quê quán của nhà họ Trần, sau đó mới cầm bút ghi tên Vương Thạch Đầu và Vương Tiểu Hoa vào sổ.
Hai cái tên mà trước đây ta từng lén lút viết vào một lần, đến nay cuối cùng cũng được đường đường chính chính ghi vào sổ sách.
Mẫu thân Thạch Đầu nhận lấy mộc bài mới, vuốt ve hết lần này đến lần khác, rồi mỉm cười với ta.
“Cô nương, lần này không phải đồ trộm được nữa rồi.”
Phía sau còn có một hàng người dài đang chờ, ta chỉ kịp gật đầu với bà ta.
Mấy ngày ấy, phía Nam thành liên tục tiến hành kiểm tra hộ tịch.
Những người có thể đối chiếu khớp giữa sổ sách cũ, khế ước cũ và lời xác nhận của đồng hương sẽ được cấp thẻ tạm thời trước. Những trường hợp thực sự không thể xác minh rõ ràng thì được ghi riêng lại, chờ tra xét sau.
Đỗ đại nương và con trai bà, Đỗ Thanh Sơn, cũng đến vào khoảng thời gian ấy.
Phu quân bà ch*t dưới tay loạn binh, giấy tờ trong nhà chẳng còn sót lại một tờ. May thay, có hai người cùng thôn nhận ra mẹ con bà, lại tìm được tên Đỗ Thanh Sơn trong sổ phát chẩn cũ.
Khi lão thư lại Hà hạ bút ghi tên, Đỗ đại nương cứ vươn cổ nhìn chằm chằm.
“Như vậy là có hộ tịch rồi sao?”
“Phải.”
Bà lập tức kéo tay áo con trai.
“Nghe thấy chưa?”
Đỗ Thanh Sơn mười tám tuổi, vóc người rất cao, nhưng áo bông lại ngắn mất một đoạn, để lộ hai cổ tay nứt nẻ vì giá rét.
Hắn nhận lấy mộc bài do ta khắc, lật qua lật lại ngắm nghía hồi lâu.
“Chữ nào là tên ta?”
Ta chỉ cho hắn xem.
“Đỗ Thanh Sơn.”
Hắn đọc theo một lần, sau đó cất mộc bài vào trong ngực.
“Có thứ này, thật sự có thể được chia nhà sao?”
“Trước tiên sẽ chia chỗ ở. Đợi sang xuân, nếu có ruộng hoang, sẽ tiếp tục sắp xếp theo thứ tự.”
Đỗ đại nương lập tức cười rạng rỡ.
“Có nhà là được rồi, ruộng đất cứ từ từ chờ.”
Nửa tháng sau, nhà họ Đỗ quả nhiên được chia một căn nhà đất ở phía Đông thành, mái nhà dột nát, cùng ba đấu lương thực tạp.
Khi ta đến đưa sổ sách, Đỗ Thanh Sơn đang ngồi xổm trên mái nhà, sửa lại lớp cỏ lợp.
Đỗ đại nương đứng bên dưới, khi thì chê hắn lợp lệch, khi lại gọi hắn chậm tay một chút, kẻo ngã xuống.
Thấy ta đến, bà vội vàng bới từ trong bếp ra hai củ khoai môn, dùng tay áo bọc lấy rồi đuổi theo.
“Cô nương, cầm lấy.”
Ta đẩy trở lại.
“Bà giữ lại mà ăn đi.”
Bà lập tức trừng mắt nhìn ta.
“Nhà ta bây giờ đã có lương thực rồi, còn thiếu hai miếng ăn của ngươi chắc?”
Đỗ Thanh Sơn ở trên mái nhà bật cười.
“Cô nương cứ cầm đi. Sáng sớm mẹ ta đã nói phải để dành cho cô nương rồi.”
Đỗ đại nương quay đầu mắng hắn:
“Chỉ giỏi lắm lời!”
Ta đành nhận lấy hai củ khoai môn, cất vào trong tay áo.
Khoai môn nóng đến mức cánh tay ta cũng ấm lên. Suốt dọc đường, ta chẳng nỡ lấy chúng ra.
9.
Thế nhưng ruộng đất còn chưa được chia, văn thư trưng đinh đã đến trước.
Hôm ấy, ta đang ở phía Nam thành giúp người ta bổ sung tên vào sổ, Đỗ đại nương bỗng xông vào, trong tay siết chặt một tờ giấy vàng nhàu nhĩ.
Bà chạy quá vội, đến mức rơi mất một chiếc giày cũng chẳng kịp để ý.
“Cô nương, mau giúp ta xem trên này viết những gì!”
Ta nhận lấy tờ giấy.
Những chữ khác ta không nhận biết hết, nhưng ba chữ “Đỗ Thanh Sơn” thì ta biết.
Bên cạnh cái tên còn có một vòng tròn đỏ.
Lão thư lại Hà chỉ liếc qua một cái.
“Trưng đinh.”
Đỗ đại nương ngây người hồi lâu, dường như vẫn chưa hiểu.
“Trưng ai?”
“Con trai bà.”
Sắc mặt bà lập tức trắng bệch.
“Dựa vào đâu chứ?”
Không ai trả lời bà.
Bà đột nhiên nhào tới, túm chặt lấy cánh tay ta.
“Chẳng phải chính ngươi giúp nhà ta bổ sung hộ tịch sao? Chẳng phải ngươi nói có tên thì có thể lĩnh lương, được chia nhà, sau này còn có thể chia ruộng sao?”
Bà càng nói, bàn tay càng run dữ dội.
“Sao ngươi không nói còn phải bắt con trai ta đi đánh trận!”
Ta bị bà bóp đến đau nhói, nhưng lại chẳng thể thốt ra lời nào.
Viên huyện lại bên cạnh thấy bà làm loạn, liền vỗ bàn quát:
“La lối cái gì? Đợt này phải trưng đủ ba trăm tráng đinh. Nam đinh đã có hộ tịch, từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi, tất cả đều phải được điểm danh. Con trai bà mười tám tuổi, vừa khéo đúng độ tuổi.”
Đỗ đại nương đột ngột quay đầu.
“Nhà ta chỉ có một mình nó thôi!”
Viên huyện lại chẳng buồn ngẩng đầu.
“Ba trăm suất thiếu hụt đã đặt ngay trước mắt. Nhà bà thiếu một người, phía sau sẽ phải lấy thêm một người từ nhà khác bù vào.”
Ta cầm sổ trưng đinh xem thử, lúc này mới phát hiện phần lớn những người bị khoanh đỏ đều là dân chạy nạn vừa được bổ sung hộ tịch trong đợt này.
Những gia đình ấy gia cảnh nghèo khó, nhưng nhân khẩu lại được ghi chép rất rõ ràng. Trong nhà có bao nhiêu nam đinh, bao nhiêu tuổi, chỉ cần liếc qua là đếm được ngay.
Ta hỏi lão thư lại Hà:
“Vậy những hộ cũ trong thành thì sao?”
Lão thư lại Hà hất cằm về phía mấy trang sau.
Ta lật qua, chỉ thấy có những gia đình ruộng đất không ít, nhưng trong sổ lại chẳng có mấy tráng đinh. Người thì mắc bệnh, kẻ thì còn quá nhỏ tuổi.
Lão thư lại Hà hạ giọng:
“Trước mắt đừng lo chuyện nhà khác. Suất của Đỗ Thanh Sơn đã định rồi.”
Đỗ đại nương nghe vậy, hai chân mềm nhũn, phải vịn vào góc bàn mới đứng vững.
Ngày hôm sau, Đỗ Thanh Sơn tự mình đến.
Đỗ đại nương đi theo phía sau, vừa đi vừa mắng hắn vô dụng, mắng quan phủ bất công, cuối cùng lại mắng sang cả ta.
“Ta đốt mộc bài ấy đi! Ta không cần nhà cửa, cũng chẳng cần ruộng đất gì nữa! Chúng ta lại đi ăn xin như trước kia là được!”
Đỗ Thanh Sơn kéo bà lại.
“Mẫu thân, tên đã ghi vào sổ rồi, có đốt mộc bài cũng vô dụng.”
Đỗ đại nương đỏ hoe mắt, đẩy hắn ra.
“Vậy thì con chạy trốn đi! Chạy ngay bây giờ! Ta coi như chưa từng sinh ra đứa con như con!”
Đỗ Thanh Sơn không nhúc nhích, chỉ nhét mộc bài của mình vào tay bà.
“Mẫu thân, người giữ lấy. Nếu con trở về, chúng ta vẫn còn phải dựa vào nó để lĩnh ruộng.”
Đỗ đại nương siết chặt tấm mộc bài, cuối cùng không kìm được mà bật khóc.
Ba ngày sau, đội tân binh xuất phát từ cửa Đông.
Bà đuổi theo đoàn người suốt hai dặm đường, đế giày cũng chạy đến rách toạc, cuối cùng vẫn bị lính canh ngăn lại bên đường.
Đỗ Thanh Sơn giữa đám đông ngoái đầu nhìn lại hai lần.
Lần thứ hai hắn quay đầu, mẫu thân hắn đã ngã ngồi xuống nền tuyết, một tay chống đất, tay còn lại vẫn siết chặt tấm mộc bài kia.
Chưa đầy một tháng sau, danh sách tử trận từ tiền tuyến được đưa về.
Tên Đỗ Thanh Sơn nằm ở trang thứ ba.
Ngay trong ngày hôm ấy, Đỗ đại nương đã tìm đến.
Vừa bước vào cửa, bà đã quét đổ toàn bộ sổ sách trên bàn ta xuống đất, rồi nhào tới túm lấy cổ áo ta.
“Chính là ngươi!”
Ta bị bà kéo đến loạng choạng.
“Chính ngươi đã ghi tên nó vào! Ta có cầu xin ngươi bổ sung hộ tịch cho nhà ta đâu? Ai bảo ngươi xen vào chuyện nhà ta!”
Lão thư lại Hà vội vàng bước đến kéo bà ra.
Nhưng bà vẫn siết chặt ta, nhất quyết không buông.
“Trước kia nhà ta không có thẻ bài, cùng lắm chỉ là chịu đói thôi. Các ngươi phát lương cho ta, chia nhà cho ta, ta còn tưởng cuối cùng cũng gặp được người tốt!”
Bà khóc một hồi, đột nhiên lại chỉ vào ta mà mắng:
“Ta còn mang khoai môn đến cho ngươi! Ta còn cảm tạ ngươi nữa!”
Nói xong câu ấy, dường như toàn thân bà bỗng mất hết sức lực, chậm rãi ngồi bệt xuống bên bàn.
Bà lấy hộ tịch từ trong ngực ra, rồi ném cả tấm mộc bài Đỗ Thanh Sơn để lại xuống bên chân ta.
“Ta chỉ có mỗi một đứa con trai ấy thôi.”
Bà lau mặt, nghẹn ngào nói:
“Phu quân ta ch*t trên đường chạy nạn. Ta dẫn nó đến Nhạn Hồi Quan, chỉ mong vào được thành rồi, mẹ con ta cuối cùng cũng có thể sống tiếp.”
“Nếu biết sớm tên được ghi vào sổ là để quan phủ đến bắt người, ta thà rằng cả đời này chẳng có cái tên ấy!”
Bà khóc đến thở không ra hơi, hồi lâu sau mới ngẩng đầu nhìn ta.
“Cô nương, ta biết ngươi có lòng tốt.”
“Nhưng con trai ta ch*t rồi, ngươi bảo ta biết trách ai đây?”
Ta chẳng thể nói được lời nào.
Bà ngồi rất lâu, cuối cùng vẫn cúi xuống nhặt tấm mộc bài của Đỗ Thanh Sơn lên, rồi rời đi.
Tờ hộ tịch rơi trước cửa, chẳng bao lâu sau đã bị người ta giẫm lẫn vào bùn nước.
10.
Nửa đêm canh ba, trên đầu thành đột nhiên vang lên tiếng chuông báo động. Ta lập tức bật dậy khỏi chiếu cỏ.
Bên ngoài đã loạn thành một đoàn. Trên phố, có người khoác áo bông chạy về phía tường thành, cũng có người kéo con nhỏ trốn vào trong nhà.
Binh lính thủ thành vừa gõ chiêng vừa chạy dọc đường hô lớn:
“Tường phía Đông thiếu người! Tất cả nam đinh có hộ tịch, từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi, lập tức đến cửa Đông!”
Mấy câu ấy lọt vào tai, ta lập tức nhớ đến cái tên Đỗ Thanh Sơn bị khoanh vòng đỏ.
Lão thư lại Hà đã mặc xong y phục. Ông ôm lấy sổ tráng đinh trên bàn, quay sang quát ta:
“Còn ngây ra đó làm gì? Cầm đèn đi theo ta!”
Dưới cửa Đông chen chúc đầy người.
Những tráng đinh bị huyện nha trưng tập khẩn cấp lần lượt báo tên, thư lại đứng bên cạnh đánh dấu vào sổ.
Trên tường thành liên tục có người hô báo thiếu nhân lực, thương binh được khiêng xuống còn chặn kín cả lối đi.
Khi một chiếc cáng đi ngang qua trước mặt ta, người đàn ông trẻ tuổi nằm trên đó vẫn cố sức đè chặt bụng mình. Kẽ ngón tay hắn toàn là máu, bên dưới lớp y phục dường như còn có thứ gì đó đang trượt ra ngoài.
Ta chỉ liếc mắt nhìn một cái, dạ dày lập tức cuộn lên dữ dội, vội cúi đầu xuống, tiếp tục giúp lão thư lại Hà điểm danh.
“Chu Đại Thành!”
Không ai đáp lời.
“Lý Vạn Phúc!”
Vẫn chẳng ai đáp lời.
Phía trước đã có hơn mười cái tên bị bỏ trống. Sắc mặt lão thư lại Hà càng lúc càng khó coi. Ông lại lật sang trang sau, tiếp tục gọi tên, nhưng vẫn có người không xuất hiện.
Trên tường thành đột nhiên vang lên một tiếng nổ lớn, ngay sau đó là tiếng người khản giọng hét lên:
“Thang đã bắc lên phía Đông rồi! Mau đưa thêm hai mươi người lên!”
Viên huyện lại phụ trách điểm danh sốt ruột đến mức mồ hôi túa đầy đầu.
“Trong sổ còn bao nhiêu người?”
Lão thư lại Hà đáp:
“Trong sổ còn bảy mươi ba người, nhưng hiện giờ ngay cả ba mươi người cũng không gom đủ.”
Viên huyện lại chửi thề một tiếng, đưa tay giật lấy quyển sổ.
“Người đâu hết cả rồi?”
Lão thư lại Hà đập quyển sổ xuống bàn.
“Ngươi hỏi ta, ta biết hỏi ai?”
Hai người đang cãi vã, phía cổng thành bỗng có người nhường ra một lối đi.
Một nam tử trẻ tuổi khoác áo choàng đen, dẫn theo hơn mười kỵ binh tiến đến. Ống tay áo bên trái của hắn dính máu, thanh đao bên hông vẫn chưa tra vào vỏ.
Viên huyện lại trông thấy hắn, vội vàng nghênh đón.
“Thôi Ngự sử, nhân lực ở tường phía Đông thật sự…”
“Trước tiên nói thiếu bao nhiêu người.”
Giọng hắn không lớn, nhưng những người xung quanh lập tức yên lặng đi không ít.
Viên huyện lại báo ra một con số.
Nghe xong, ta không nhịn được ngẩng đầu.
“Không chỉ có thế.”
Nam tử kia quay sang nhìn ta. Ngay lập tức, ta đã hối hận vì mở miệng.
Lão thư lại Hà lại chẳng hề che giấu giúp ta, chỉ hỏi:
“Ngươi tính ra bao nhiêu?”
Ta lật lại mấy trang vừa điểm danh ban nãy.
“Ở đây có hai người mà hôm qua tên đã nằm trong danh sách tử trận. Ngoài ra còn có ba người ta từng gặp ở phía Nam thành ban ngày, tuổi tác căn bản chưa đủ mười tám.”
“Cộng thêm những người trước đó không đáp lời, ít nhất còn thiếu tám người nữa.”
Sắc mặt viên huyện lại càng thêm khó coi.
Thôi Ngự sử bước đến bên bàn, cầm quyển sổ lên xem một lượt.
“Doanh trại phía Tây còn điều được bao nhiêu người?”
Có người đáp:
“Bốn mươi bảy người.”
“Điều toàn bộ sang đây. Những người trong thành có thể khuân đá, gánh nước cũng đều đưa lên tường thành. Trước tiên phải chống đỡ qua đêm nay.”
Nói xong, hắn xoay người đi về phía tường thành. Đi được hai bước, hắn lại quay đầu nhìn ta.
“Nha đầu này ở lại, tiếp tục điểm danh.”
Ta không ngờ mình thật sự được giữ lại.
Đêm ấy, ta đã gọi không biết bao nhiêu cái tên.
Có người đáp một tiếng rồi lập tức chạy lên tường thành. Có người đáp lời xong thì chẳng bao giờ trở lại. Cũng có những cái tên ta gọi đến ba lần, nhưng ngay cả bóng người cũng chẳng thấy đâu.
Gần sáng, tường phía Đông cuối cùng cũng được giữ vững.
Thi thể được khiêng xuống từng người một, xếp thành hàng bên chân tường thành.
Ta giúp ghi chép số người ch*t và bị thương. Mới viết được một nửa, đã có người khiêng một tráng hán đến trước bàn.
Hắn trúng một mũi tên ở ngực, cán tên đã gãy, nửa bên áo bông bị máu thấm đẫm.
Ta hỏi hắn tên gì.
Hắn phải thở dốc mấy hơi mới nói được:
“Hàn… Hàn Thuyên Trụ.”
Ta tìm trong sổ, không thấy.
“Người ở đâu?”
“Người huyện Lâm Hà, sau đó chạy nạn đến đây… vẫn luôn làm ruộng ở thôn Trang Triệu, phía Đông thành.”
Ta lại lật về phía trước tìm một lượt, vẫn chẳng thấy tên hắn.
Người bên cạnh đang định khiêng hắn đi, hắn đột nhiên nắm chặt mép bàn.
“Cô nương, trong nhà ta vẫn còn người.”
Ta vội cúi người xuống.
“Thê tử ta tên Liễu Xuân Nương, còn có hai đứa nhỏ… đứa lớn bảy tuổi, đứa nhỏ bốn tuổi.”
Ta ghi lại ba cái tên ấy, sau đó bổ sung tên Hàn Thuyên Trụ vào sổ.
Ánh mắt hắn vẫn luôn dõi theo ngòi bút của ta.
“Ta ở đâu?”
Ta dịch tờ giấy đến trước mặt hắn, chỉ cho hắn xem.
“Ba chữ này là tên ngươi, Hàn Thuyên Trụ.”
Hắn không biết chữ, nhưng vẫn nhìn chằm chằm hồi lâu. Ngón tay dính máu khẽ chạm lên ba chữ ấy.
Một lát sau, hắn mới hỏi tiếp:
“Ta cũng được tính là tử trận khi thủ thành, phải không?”
“Phải.”
Môi hắn khẽ động đậy.
“Vậy nếu có phát lương… hãy đưa cho Xuân Nương.”
Sống mũi ta cay xè, vội gật đầu.
“Được.”
Hắn nhìn ta, dường như còn muốn hỏi lại một lần nữa, nhưng cuối cùng chỉ khẽ gật đầu.
Không lâu sau, người bên cạnh đưa tay sờ cổ hắn.
Hắn đã tắt thở.
Ta vẫn còn nắm chặt tờ giấy ấy, phía sau bỗng có người đưa tay nhận lấy.
Ta quay đầu, chính là Thôi Ngự sử ban nãy.
Hắn xem xong, đưa tờ giấy cho viên thư lại bên cạnh.
“Hàn Thuyên Trụ, tử trận. Ba người thân thuộc, ngày mai đến Trang Triệu, phía Đông thành, xác minh nhân khẩu.”
Viên thư lại đáp lời, chép cái tên ấy vào sổ thương vong.
Ta không nhịn được nhìn hắn thêm một cái.
Hắn cũng nhìn ta. “Ngươi tên gì?”
Ta theo bản năng sờ mộc bài trong ngực. “Hứa Tri Vi.”
Hắn gật đầu, không hỏi thêm nữa.
11.
Đến khi trời sáng, dưới chân tường thành vẫn còn đọng từng vũng máu loãng.
Trong huyện nha, chẳng ai có thể chợp mắt. Đêm qua có bốn mươi bảy người tử trận, hơn hai mươi người bị thương nặng.
Điều phiền phức hơn cả là số quân binh mà doanh thủ thành báo lên ban đầu, vậy mà lại nhiều hơn gần một trăm người so với số thực sự có thể lên tường thành chiến đấu.
Thôi Cảnh Hành đặt mấy quyển sổ lên công đường, lần lượt gọi người đến tra hỏi.
Lúc này ta mới biết tên hắn.
Hắn là Ngự sử được triều đình phái từ kinh thành đến kiểm tra lương thực biên cương và quân tịch. Hôm trước hắn vừa đến Nhạn Hồi Quan, hành lý còn chưa kịp dỡ xuống, đêm đến đã gặp phải trận công thành.
Lão thư lại Hà bị gọi vào trong. Khi trở ra, sắc môi ông đã hơi tái nhợt.
Ta đi theo phía sau, hỏi:
“Có chuyện gì vậy?”
Ông không trả lời, mãi đến khi đi xa mới hạ giọng nói:
“Đoạn tường thành mà loạn quân tấn công đêm qua, vừa khéo lại là nơi thiếu người nhiều nhất.”
Bước chân ta chậm lại.
Lão thư lại Hà nhìn ta.
“Đừng nghĩ ngợi nữa, chuyện này không liên quan đến ngươi.”
Thế nhưng ngay buổi chiều hôm ấy, Thôi Cảnh Hành đã phái người chuyển toàn bộ sổ phát chẩn, sổ nhập quan cùng sổ trưng đinh của mấy tháng gần đây đến huyện nha. Ngay cả những trường hợp người ch*t vẫn lĩnh lương mà trước đó chúng ta tra ra cũng đều bị lật lại.
Lão thư lại Hà ngồi trước bàn xem xét suốt cả buổi chiều.
Ta giúp ông mài mực, thấy ông hồi lâu không hạ bút, cuối cùng không nhịn được hỏi:
“Chú đang xem gì vậy?”
“Xem những người ch*t này có phải đều ch*t quá đúng lúc hay không.”
“Ý chú là gì?”
Ông dùng cán bút gõ nhẹ lên tờ giấy.
“Có người ch*t rồi mà vẫn lĩnh lương. Có người chưa vào thành nhưng tên đã được ghi vào sổ. Bây giờ lại có người rõ ràng không ở trong quân doanh, vậy mà quân lương vẫn được phát đủ không thiếu một đồng.”
Nói xong, ông đẩy tờ giấy sang một bên.
“Một nơi mục nát, còn có thể nói là có kẻ giở trò ăn bớt. Nhưng cả ba nơi đều mục nát, chuyện này e rằng chẳng đơn giản như vậy.”
Vừa dứt lời, bên ngoài đã có người đến gọi ông. Thôi Cảnh Hành muốn ông sao chép toàn bộ những cái tên bất thường trong nửa năm gần đây thành một bản riêng.
Lời này vừa dứt, bên ngoài đã có người tới gọi hắn. Thôi Cảnh Hành muốn hắn chép lại toàn bộ những cái tên có điểm bất thường trong gần nửa năm qua.
Hà thư lại mắng một câu xui xẻo, nhưng cuối cùng vẫn ôm sổ sách đi.
Một lần chép ấy kéo dài đến tận nửa đêm.
Ta nằm bò bên mép bàn, giúp hắn nhận mặt chữ số, mí mắt nặng trĩu, gần như chẳng mở nổi.
Hà thư lại bẻ đôi chiếc màn thầu nguội, ném cho ta một nửa.
“Ăn rồi ngủ.”
Ta cắn một miếng, cứng đến mức suýt làm mẻ răng.
Ta đang định lấy nước ngâm cho mềm thì ngoài cửa bỗng vang lên một tiếng động khẽ, tựa như có thứ gì đó vừa sượt qua cánh cửa.
Ngòi bút trong tay Hà thư lại đột ngột khựng lại.
Một lát sau, bên ngoài lại vang lên tiếng động, lần này mạnh hơn lúc trước.
Hắn không nói gì, chỉ đưa tay vặn nhỏ tim đèn, khiến căn phòng lập tức tối đi.
Bên ngoài yên tĩnh trong chốc lát.
Ngay sau đó, then cửa đột nhiên rung lên dữ dội.
Chiếc bánh trong tay ta rơi thẳng xuống bàn.
Hà thư lại chộp lấy xấp giấy trên bàn, cuống quýt nhét vào túi vải rồi đẩy vào lòng ta.
“Cửa sổ phía sau, mau đi!”
Cánh cửa lại rung lên một tiếng. Then gỗ lập tức nứt toác.
“Chú Hà!”
Hắn đã đẩy mạnh ta một cái.
“Chạy mau!”
Ta ôm chặt túi vải, lao tới cửa sổ phía sau. Cửa sổ quá nhỏ, ta trèo hai lần mới lật người ra ngoài được. Áo bông bị dằm gỗ móc rách một đường, cánh tay cũng bị cứa chảy máu.
Vừa chạm đất, trong phòng đã vang lên một tiếng động nặng nề, tựa như chiếc bàn bị xô đổ.
Ta quay người định trở vào, nhưng bóng người chợt lướt qua cửa sổ. Ngay sau đó, ta nghe thấy Hà thư lại chửi lớn:
“Đồ chó ch*t!”
Những lời tiếp theo bị một âm thanh khác cắt ngang. Chẳng bao lâu, mùi dầu hỏa đã theo gió bay ra ngoài.
Ta lập tức quay đầu bỏ chạy, ôm chặt túi vải, men theo chân tường lao vào con ngõ nhỏ.
Chân ta mấy lần trượt ngã, nhưng không dám dừng lại, cứ thế vừa bò vừa chạy, vòng qua góc tường. Phía sau, cửa sổ gỗ đã bị người ta phá tung.
Ta không dám ngoảnh đầu, chỉ cắm cúi chạy về phía trước.
Tuyết trong ngõ đã bị giẫm chặt thành một lớp băng cứng. Ta trượt chân, cả người lẫn túi vải ngã nhào xuống đất, giấy bên trong tung tóe khắp nơi.
Ta vội vàng bò dậy nhặt lại. Mới gom được mấy tờ, cổ áo phía sau đột nhiên bị người ta túm lấy.
Kẻ đó giật mạnh ta về phía sau, đồng thời vươn tay cướp lấy túi giấy.
Ta sờ thấy nửa viên gạch vỡ bên chân tường, lập tức xoay người ném thẳng về phía hắn.
Hắn né sang một bên, viên gạch chỉ sượt qua vai.
“Đồ ranh con!”
Hắn quay người, đá mạnh một cú vào mạn sườn ta.
Ta bị đá văng, đập mạnh vào tường. Sau gáy va phải khe gạch, rồi cả người trượt xuống nền tuyết, hồi lâu không thể đứng dậy.
Hắn chẳng thèm nhìn ta, chỉ cúi xuống nhặt những tờ giấy rơi vãi trên đất.
Ta nghiến răng bò tới, ôm chặt lấy chân hắn.
Hắn kéo lê ta đi được hai bước. Thấy không thể hất ta ra, hắn liền giơ chân đá thật mạnh vào vai ta.
Ta lăn đi một quãng xa, trong miệng toàn mùi máu tanh. Vừa chống tay gượng dậy, hắn đã bước tới trước mặt.
Lần này, hắn không nhặt giấy nữa mà giơ chân, đạp thẳng xuống đầu ta.
Ngay đầu ngõ bỗng vang lên tiếng quát lớn:
“Bắt lấy!”
Mấy tên thị vệ đeo đao lập tức xông vào.
Kẻ đuổi theo ta quay người bỏ chạy, nhưng chưa được mấy bước đã bị người ta đè sấp xuống nền tuyết.
Ta co mình bên chân tường, thở hổn hển.
Thôi Cảnh Hành từ phía sau đi tới, áo choàng trên người còn chưa kịp buộc chặt.
Hắn cúi xuống nhặt một tờ giấy bị giẫm bẩn, chính là bản danh sách Hà thư lại đã chép.
Hắn ngẩng đầu hỏi ta:
“Hà thư lại đâu?”
Ta quay đầu, trông thấy căn nhà kia đã bốc cháy, ngọn lửa cuồn cuộn trào ra khỏi cửa sổ.
Ta chống tay vào tường đứng dậy. Vừa bước được một bước, chân đã mềm nhũn, loạng choạng mấy cái, nhưng ta vẫn cố chạy ngược về phía căn nhà.
Thôi Cảnh Hành lập tức kéo ta lại.
“Bên trong toàn là lửa!”
“Ông ấy vẫn còn ở trong đó!”
Ta giãy không thoát, bèn cúi đầu cắn mạnh vào tay hắn.
Hắn đau đớn buông lỏng tay trong thoáng chốc. Ta nhân cơ hội lao đi, nhưng vừa chạy tới cửa, nửa thanh xà nhà đã ầm ầm đổ sập xuống.
Tàn lửa bắn tung tóe khắp con phố. Ta đứng ch*t lặng tại chỗ, mặt bị hơi nóng hun đến đau rát.
Có người xách nước từ bên cạnh tới, ra sức hắt vào trong. Nước vừa đổ xuống, lập tức bốc lên một màn hơi trắng dày đặc.
Không ai có thể vào được nữa.
Mãi đến khi trời sáng, đám cháy mới hoàn toàn tắt. Từ trong nhà, người ta khiêng ra hai thi thể bị thiêu đến mức không còn nhận rõ hình dạng.
Ta đứng ngoài cửa, nhìn chằm chằm hồi lâu.
Một thi thể có đoản đao giắt bên hông. Trên chân thi thể còn lại vẫn vướng nửa chiếc giày bông cháy đen.
Mũi giày ấy đã được vá hai lần. Đó chính là đôi giày ta ngày nào cũng nhìn thấy Hà thư lại mang.
Ta ngồi xổm xuống, nhặt chiếc giày cháy đen lên. Vừa chạm vào, lớp tro đen trên mặt giày đã rơi lả tả.
Thôi Cảnh Hành đứng phía sau ta, không hề thúc giục.
Rất lâu sau, hắn mới hỏi:
“Những tờ giấy trong lòng ngươi còn lại bao nhiêu?”
Ta cúi đầu nhìn. Túi vải đã rách một đường lớn, toàn bộ giấy còn sót lại đều nhàu nhĩ bên trong.
“Vẫn còn đủ.”
Thôi Cảnh Hành liếc nhìn căn nhà vẫn đang bốc khói.
“Hôm nay đừng trở về lều phát chẩn nữa.”
Ta không có phản ứng gì.
Hắn lại nói:
“Bọn chúng đã dám xông vào nha môn gi-ết người. Ngươi còn ở lại Nhạn Hồi Quan, e rằng chẳng sống nổi quá vài ngày.”
Lúc này ta mới ngẩng đầu nhìn hắn.
“Chú Hà phải làm sao đây?”
Thôi Cảnh Hành im lặng hồi lâu.
“Trước tiên hãy an táng ông ấy. Những thứ trong tay ngươi không thể tiếp tục giữ ở Nhạn Hồi Quan.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
“Phòng thủ quan ải, kho lương cứu tế và quân doanh, sổ sách của cả ba nơi đều đã bị người ta động tay động chân. Hà thư lại vừa chép được danh sách, đêm nay đã có kẻ tới gi-ế-t ông ấy.”
Hắn nhét mấy tờ giấy kia trở lại túi vải.
“Vụ án này đã không còn là chuyện mà riêng Nhạn Hồi Quan có thể điều tra được nữa.”
Nói xong, hắn quay người dặn người chuẩn bị xe ngựa.
“Ngươi cũng không thể ở lại. Trước khi trời tối, phải theo ta ra khỏi thành.”
12
Chưa đến giữa trưa, nha môn đã mua về hai cỗ quan tài mỏng.
Người của Thôi Cảnh Hành đã chuẩn bị xe ở cổng thành. Ta đi theo những người khiêng quan tài đến nghĩa địa phía tây thành.
Trước khi đậy nắp quan tài, ta đặt chiếc giày bông cháy đen vào bên trong.
Mũi giày hơi nhô ra ngoài, ta đưa tay đẩy nó vào trong.
Mấy phu dịch nhanh chóng đóng đinh nắp quan tài, rồi đào một huyệt nông, hạ quan tài xuống.
Vai ta vẫn còn đau, mạn sườn cũng bầm tím một mảng lớn. Ta chỉ có thể vịn vào thân cây bên cạnh, nhìn bọn họ từng xẻng từng xẻng lấp đất.
Thôi Cảnh Hành vẫn luôn chờ dưới sườn dốc.
Xẻng đất cuối cùng vừa lấp xuống, hắn liền bước tới.
“Đi thôi.”
Ta đứng yên bất động, lại ngoảnh đầu nhìn lần nữa. Trên nấm mồ mới chẳng có thứ gì, đến một tấm bia cũng chưa kịp dựng.
Thôi Cảnh Hành bảo người ghi lại tên Hà thư lại, nói rằng sau này quay về sẽ bổ sung bia mộ cho ông.
Ta không hỏi cái gọi là “sau này” ấy rốt cuộc là bao lâu.
Chúng ta kịp rời khỏi Nhạn Hồi Quan trước khi cổng thành đóng lại.
Thôi Cảnh Hành dẫn theo tám người. Hai con ngựa kéo một chiếc xe phủ vải xanh. Toàn bộ giấy tờ được chép lại đều giấu trong ngăn bí mật dưới đáy xe.
Ta bị thương rất nặng, chỉ có thể ngồi trong xe.
Khi bánh xe lăn qua những phiến đá dưới cổng thành, ta vén rèm nhìn ra ngoài một lần.
Tường phía đông vẫn đang được sửa chữa. Nơi hôm qua người ta khiêng thi thể đi qua đã được rải một lớp tro cỏ cây thật dày.
Chỗ Hàn Thuyên Trụ và những người kia từng nằm, giờ đã chẳng còn nhìn thấy nữa.
Xe ra khỏi thành, một đường đi về phía nam.
Trời rất nhanh đã tối. Khi chúng ta đi được hơn hai mươi dặm, phía trước bỗng vang lên một tràng tiếng ngựa hí.
Ta còn chưa ngồi vững, thân xe đã đột ngột nghiêng mạnh sang một bên.
Bên ngoài có người hét lớn:
“Có mai phục!”
Ngay sau đó là tiếng đao kiếm va chạm.
Một mũi tên xuyên qua rèm xe, cắm phập vào tấm ván gỗ phía sau ta.
Ta lập tức cúi rạp người, bám chặt thành xe để giữ thăng bằng.
Mũi tên thứ hai sượt qua càng xe. Ngựa kéo xe bị kinh hãi, kéo cả xe lao về phía ven đường.
Phu xe ra sức ghìm cương, hét lớn:
“Xuống xe!”
Ta lăn người xuống từ phía bên kia. Vừa bò dậy, ta đã trông thấy năm sáu kẻ từ trong rừng phía trước xông ra.
Người của Thôi Cảnh Hành đã nghênh chiến.
Hai bên quan đạo đều là núi. Đi về phía trước là một cửa núi hẹp, mà phía sau cũng có người đuổi tới.
Ta men theo bờ mương lùi lại hai bước, bất chợt đá phải một tảng đá dưới chân.
Nửa tấm bia đá vùi trong tuyết. Ta ngồi xổm xuống, gạt tuyết sang một bên, lại trông thấy bên cạnh có một vệt bánh xe đã bị cỏ dại che lấp từ lâu.
Ta ngẩng đầu hét lớn:
“Thôi ngự sử! Bên này có đường!”
Hắn đang ngồi trên ngựa đỡ đao, nghe thấy tiếng ta liền ngoảnh đầu lại.
Một thị vệ bên cạnh vội vàng nói:
“Ở đây làm gì có đường?”
“Có!” Ta chỉ vào sâu trong khe núi. “Đó là dịch đạo cũ, đã bỏ hoang từ lâu. Cứ men theo khe núi này đi tới, phía trước có một máng ngựa cũ. Qua máng ngựa rồi rẽ trái, có thể vòng ra khỏi cửa núi.”
Tên thị vệ còn định nói gì đó, Thôi Cảnh Hành đã tung người xuống ngựa.
“Đi đường này!”
Một số người ở lại cản hậu, những người còn lại hộ tống xe ngựa rút vào khe núi.
Xe quá rộng, không thể đi vào con đường cũ.
Thôi Cảnh Hành lập tức sai người lấy toàn bộ đồ vật trong ngăn bí mật ra, chia nhau mang trên người. Chiếc xe cùng hai con ngựa đều bị bỏ lại bên quan đạo.
Ta cũng ôm một bọc giấy.
Thôi Cảnh Hành đưa tay định lấy.
“Đưa ta.”
“Ta tự mang được.”
Hắn liếc nhìn ta, không giành nữa, chỉ dặn:
“Đi sát theo ta.”
Dịch đạo cũ hẹp hơn nhiều so với ký ức của ta.
Dưới lớp tuyết toàn là đá vụn. Ta bước thấp bước cao đi về phía trước, mỗi lần thân người chao đảo, mạn sườn lại đau nhói.
Phía sau nhanh chóng vang lên tiếng vó ngựa. Bọn chúng đã đuổi kịp.
Chúng ta càng bước nhanh hơn, men theo con đường cũ không ngừng tiến về phía trước.
Đi đến một ngã rẽ, vết bánh xe trên mặt đất bỗng đột ngột biến mất.
Có người hỏi ta:
“Đi đường nào?”
Ta nhìn ngã rẽ, cố nhớ lại tình cảnh năm ấy khi đi theo cha mình trên con đường này.
Năm đó cũng là mùa đông, quan đạo bị tuyết vùi lấp, cha dẫn ta đi vòng qua đây. Khi đến ngã rẽ, ông còn đặc biệt chỉ cho ta xem một tấm bia dịch trạm bị gãy bên đường.
“Nhớ kỹ chỗ này, đi về bên trái. Đi thêm nửa dặm là đến dịch trạm bỏ hoang.”
Ta ngồi xổm xuống, gạt lớp tuyết bên đường. Rất nhanh, tay ta đã chạm được nửa tấm bia đá chôn sâu trong đất.
Ta lại đào thêm mấy cái, quả nhiên để lộ một chữ “驿” đã sứt mẻ.
“Bên trái!”
Ta đứng dậy, lập tức đi về phía trái. Mọi người vội vàng theo sát phía sau.
Đi thêm chưa đầy nửa dặm, phía trước quả nhiên hiện ra một đình dịch cũ đã sụp mất một nửa. Máng ngựa bằng đá dưới chân tường vẫn còn nguyên.
Thôi Cảnh Hành nhìn ta một cái, không nói gì, chỉ giơ tay ra hiệu cho mọi người tiếp tục tiến lên.
Con đường nhỏ vận chuyển cỏ khô phía sau đình dịch vô cùng chật hẹp, ngựa không thể đi qua.
Quân truy đuổi đến đây, đành phải xuống ngựa.
Bước chân của bọn chúng chậm lại, chúng ta liền tranh thủ kéo giãn khoảng cách, cứ thế đi mãi đến tận nửa đêm về sáng. Lúc ấy, phía trước mới xuất hiện ánh đèn của một dịch bảo khác.
Người trông coi dịch trạm nghe Thôi Cảnh Hành báo chức quan, lập tức vội vàng mở cửa.
Vừa vào trong, ta liền ngồi bệt xuống đất, hồi lâu không đứng dậy nổi.
