Một Đời Ba Cái Tên - Chương 3
Có người đưa nước cho ta. Ta uống hai ngụm, cúi đầu mới phát hiện hai tay mình vẫn ôm chặt bọc giấy kia.
Thôi Cảnh Hành ngồi xổm xuống, lấy nó khỏi lòng ta.
“Không còn ai cướp nữa đâu.”
Ta buông tay. Mười ngón tay đã lạnh cóng đến tím tái.
Hắn nhét lò sưởi cầm tay của mình vào tay ta, sau đó đứng dậy đi kiểm tra những thị vệ bị thương.
Gần sáng, chúng ta đổi sang một chiếc xe ngựa khác.
Ta tựa vào thành xe, ngủ thiếp đi một giấc. Đến khi tỉnh lại, bên ngoài đã chẳng còn nhìn thấy Nhạn Hồi Quan nữa.
Về sau, số sổ sách thu thập được ở Nhạn Hồi Quan được đưa thẳng về kinh thành.
Hơn mười người ở phòng phòng thủ quan ải, kho lương cứu tế và quân doanh lần lượt bị bắt. Từ manh mối về quân lương, người ta còn tra ra thêm mấy viên quan phụ trách chuyển giao.
Những cái tên Hà thư lại chép xuống trong đêm hôm ấy, tất cả đều trở thành chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Vụ án ấy phải điều tra hơn nửa năm mới kết thúc.
13
Năm năm sau, ta mười tám tuổi.
Trên quan đạo bên ngoài cửa nam Thương Châu, người đông nghìn nghịt.
Xe nát, chiếu cỏ, sọt tre chất đầy ven đường. Trẻ nhỏ khóc lóc, người lớn ho khan, còn có người ngồi bệt trên nền tuyết, chẳng còn chút sức lực nào để nhích về phía trước.
Suốt năm năm qua, chiến sự ở phương bắc chưa từng ngừng lại.
Các châu huyện mất rồi lại giành về, vừa thu phục được chẳng bao lâu đã lại thất thủ. Từng đoàn dân chạy nạn nối tiếp nhau kéo về phương nam.
Ta theo Thôi Cảnh Hành bôn ba khắp nơi. Nơi nào có chiến sự, chúng ta liền đến nơi ấy.
Thôi Cảnh Hành làm cho ta một tờ sai đi tùy hành. Các châu huyện nhìn thấy con dấu bên trên, lúc ấy mới chịu cho ta vào phòng hộ tào, tra cứu sổ sách cũ.
Ban đầu, ta chỉ biết giúp người ta chép tên. Về sau, số người ch*t, hộ dân chạy trốn và bách tính làm mất hộ thiếp mà ta gặp ngày một nhiều.
Nơi nào cần tra sổ cũ, nơi nào phải tìm người cùng thôn làm chứng, nơi nào có thể lần ra thân thế của một người từ hôn thư hay khế đất, dần dần ta đều thông thạo.
Về sau, mỗi khi có một lượng lớn dân lưu lạc tràn vào thành, các thư lại bên dưới đều phải đến hỏi ta một câu trước:
“Hứa Cô nương, đợt này nên kiểm tra thế nào?”
Lần này, ba huyện phía bắc vừa thất thủ, hơn ba nghìn người đã chạy trốn đến Thương Châu.
Cổng thành chỉ mở một nửa. Binh lính canh cửa giăng ngang trường thương, không cho đám đông chen lên phía trước.
“Những ai không có hộ thiếp, lui ra sau!”
Đám đông lập tức hỗn loạn.
Có người giơ tờ lộ dẫn rách nát, cố chen lên phía trước; có người ôm con khóc lóc; lại có một người phụ nữ nhấc cô con gái chừng bảy, tám tuổi lên quá đầu, định chuyền con qua những khe hở giữa đám người.
Đứa trẻ vừa bị lính canh đẩy trả lại, ta đã chen được tới phía trước.
Ta vội vàng đỡ lấy nàng bé.
Người phụ nữ kia cuống quýt đến mức bật khóc.
“Cô nương, con bé có tên đàng hoàng! Nó tên Hạnh Nhi. Cha nó đã ch*t ở phương bắc từ năm ngoái, hộ thiếp trong nhà cũng bị thiêu rụi cả rồi. Các người cứ cho con bé vào trước đi, ta không vào cũng được!”
Ta đặt đứa trẻ trở lại bên cạnh nàng, rồi hỏi:
“Các ngươi là người thôn nào?”
“ Hà Dương huyện, thôn Hòe Thụ.”
“Trong thôn còn người nào nữa không?”
Nàng quay đầu nhìn quanh đầy bối rối. Chẳng mấy chốc, bảy tám người đã giơ tay lên.
Ta ngoắc tay về phía sau. Hai thư lại lập tức khiêng bàn tới.
Tri phủ Thương Châu biến sắc.
“Hứa cô nương, cô đang làm gì vậy?”
“Ghi danh trước đã.”
“Cổng thành sắp đóng rồi.”
Ta nhìn sắc trời. Mặt trời đã khuất sau tường thành, vậy mà số người bên ngoài vẫn không ngừng tăng lên.
“Sau khi đóng cổng, bọn họ phải làm sao?”
Tri phủ hạ thấp giọng:
“Ta cũng muốn cho họ vào. Nhưng phía bắc vừa mất ba huyện, ai biết trong đám người này có trà trộn mật thám hay không?”
“Lương thực trong thành chỉ đủ dùng một tháng. Nếu lại cho thêm mấy nghìn người vào, lỡ xảy ra chuyện thì phải làm sao?”
Những lời ấy đều có lý.
Ta hỏi:
“Trong thành còn bao nhiêu thư lại?”
“Mười mấy người.”
“Nha dịch biết chữ thì sao?”
“Hơn hai mươi người.”
“Vậy mượn thêm người từ các phường. Tiên sinh Thiết Toán Bàn, thầy đồ ở các trường tư thục, chỉ cần biết chữ thì đều gọi tới.”
Tri phủ ngẩn người.
“Cô định kiểm tra hết trong đêm nay sao?”
“Trước tiên kiểm tra những người có thể kiểm tra.”
Ta chỉ ra bên ngoài.
“Chia theo từng thôn. Những người có thể làm chứng cho nhau thì đứng cùng một chỗ. Ai có lộ dẫn thì lấy lộ dẫn ra, ai có hôn thư, khế đất, hóa đơn nộp thuế cũ thì đều mang ra hết. Người không có bất cứ thứ gì thì đứng riêng một bên, sáng mai kiểm tra tiếp.”
“Nhưng chuyện này vẫn phải có người đứng ra quyết định.”
Ta quay đầu nhìn vào trong cổng thành. Thôi Cảnh Hành vừa xuống ngựa.
Năm năm đã trôi qua, hắn rất ít khi mặc chiếc áo choàng đen năm xưa. Hôm nay đi đường suốt một ngày, trên vai hắn phủ đầy bụi đất.
Tri phủ như nhìn thấy cứu tinh, lập tức nghênh đón.
“Thôi đại nhân, ngài đến thật đúng lúc. Hứa cô nương nàng…”
“Ta nghe thấy rồi.”
Thôi Cảnh Hành đi đến bên bàn, nhìn đám người ngoài thành một lượt.
“Cho nàng một đêm.”
Tri phủ còn định nói gì đó.
Thôi Cảnh Hành tháo lệnh bài bên hông, đặt lên bàn.
“Đêm nay cửa nam không đóng. Dọn trống thành lũy ngoài để tiếp nhận người, ưu tiên cho người già và trẻ nhỏ vào trước. Nội thành vẫn đóng cửa như cũ, chỉ cho những người đã kiểm tra xong đi qua. Nếu xảy ra chuyện gì, ta chịu trách nhiệm.”
Tri phủ nhìn lệnh bài kia, chỉ đành sai người đi làm.
Ta đã ngồi xuống bắt đầu ghi chép.
Mấy thư lại theo ta bôn ba qua hai châu đã quen việc, lập tức chia đám người theo từng thôn. Binh lính cũng chuyển lò than và bàn ghế dài tới.
Trời đã tối đen, trong cổng thành không nhìn rõ chữ. Tri phủ lại sai người dựng giá đèn, lần lượt thắp từng ngọn đèn dầu.
Chẳng bao lâu, khu vực dưới cửa nam đã sáng bừng lên.
Thôi Cảnh Hành lấy một chiếc bánh vừa nướng xong từ bên cạnh, đặt cạnh tay ta.
“Ăn cơm trước đi.”
Ta cúi đầu ghi tên.
“Đợi lát nữa.”
Hắn nhìn ta, đưa tay bẻ chiếc bánh thành hai nửa. Một nửa nhét vào tay ta, nửa còn lại dùng giấy gói kỹ, đặt ngay bên cạnh.
“Nửa này ăn ngay, nửa còn lại để dành đến đêm.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
“Sao ngươi biết đêm ta sẽ đói?”
“Lần nào ngươi chẳng như vậy?”
Nói xong, hắn đi kiểm tra sổ sách ở bàn bên kia.
Ta cúi đầu cắn một miếng bánh, rồi cất nửa còn lại đã gói kỹ vào trong tay áo.
Bên ngoài cổng thành chợt có người gọi lớn:
“Hứa cô nương, bên này có hơn hai mươi hộ, đều là người cùng một thôn!”
Ta đứng dậy.
“Dẫn họ tới đây.”
Lại có người chạy đến hỏi:
“Có một bà lão không có bất cứ giấy tờ gì, chỉ nhớ ở đầu thôn có một ngôi miếu Thổ Địa. Phải làm sao đây?”
“Ghi riêng tên trước, sau đó hỏi người cùng thôn.”
“Còn một hộ nữa, người đàn ông đã ch*t, chỉ còn lại hai mẹ con.”
“Cứ ghi như thường.”
Người kia đáp lời, xoay người rời đi.
Tri phủ đứng bên cạnh quan sát một lúc. Thấy người đến càng lúc càng đông, ông dứt khoát sai người chuyển thêm một chiếc bàn tới.
Ta chia cho ông một ít giấy trắng.
“Bên này đều là người thôn Hòe Thụ, đại nhân giúp ghi chép một chút.”
Ông nhìn ta, đành chấp nhận số phận, ngồi xuống nhận lấy giấy, cúi đầu hỏi tên họ và quê quán từng người.
Đèn dưới cổng thành lần lượt được thắp lên. Thư lại và nha dịch mỗi người trông coi một chiếc bàn, đám đông bên ngoài cũng dần xếp thành hàng theo từng thôn.
Canh một vừa qua, danh sách của nhóm người đầu tiên đã được kiểm tra xong.
14
Sau khi kiểm tra xong nhóm đầu tiên, tốc độ xử lý những người phía sau nhanh hơn nhiều. Ai có giấy tờ thì kiểm tra giấy tờ, ai không có thì hỏi người cùng thôn. Nếu vẫn không thể xác minh rõ ràng, sẽ ghi riêng sang một bên để điều tra tiếp.
Người phụ nữ ban nãy giơ con gái qua đầu cuối cùng cũng chen được đến trước bàn.
Nàng nắm chặt tay con, sợ lại bị đám đông xô đẩy khiến hai mẹ con lạc mất nhau.
Thư lại hỏi:
“Họ tên?”
“Tống Vân Nương.”
“Nhà chồng ở đâu?”
Nàng cúi đầu.
“Phu quân ta đã mất từ năm ngoái.”
Thư lại khựng lại một chút, rồi hỏi tiếp:
“Bên nhà mẹ đẻ còn huynh đệ nào không?”
Tống Vân Nương lắc đầu.
Hắn cầm bút, nhất thời không biết nên ghi nàng vào hộ nào.
Ta rút một tờ giấy từ bên cạnh.
“Ghi riêng.”
Thư lại ngẩng đầu nhìn ta.
Ta chỉ vào Tống Vân Nương.
“Ghi tên của chính nàng.”
Hắn không hỏi thêm nữa, cúi đầu viết xuống ba chữ “Tống Vân Nương”.
Đến lượt đứa trẻ, Tống Vân Nương vội vàng nói:
“Con bé tên Lục Hạnh Nhi, chữ ‘Hạnh’ trong hoa hạnh.”
Hạnh Nhi vẫn luôn nhìn chằm chằm vào ngòi bút.
Đợi tên mình được viết xong, nàng bé khẽ hỏi ta:
“Đây là tên của con sao?”
Ta xoay tờ giấy lại, chỉ cho nàng xem.
“Đây là tên của con.”
Nàng không hiểu chữ, nhưng vẫn ghé sát lại nhìn.
Tống Vân Nương đứng bên cạnh lau khóe mắt, rất nhanh lại buông tay xuống.
Đến nửa đêm, dưới cổng thành đã bày hơn mười chiếc bàn.
Số thư lại tri phủ mang đến ban đầu không đủ, ông lại gọi thêm mấy người làm sổ sách và thầy đồ trong thành tới giúp.
Người của Thôi Cảnh Hành canh giữ bên ngoài, lần lượt dẫn từng nhóm người vào kiểm tra.
Người quá đông, quả nhiên có mấy kẻ không thể giải thích rõ lai lịch trà trộn vào.
Trong số đó có một người đàn ông cầm lộ dẫn, tự xưng là dân Hà Dương huyện. Quan ấn trên giấy đầy đủ, niên đại cũng hoàn toàn khớp.
Ta hỏi hắn thuộc thôn nào, hắn đáp là thôn Hòe Thụ.
Mấy người dân thôn Hòe Thụ đứng bên cạnh đồng loạt quay đầu nhìn hắn.
Có người lập tức mắng:
“Trong thôn chúng ta làm gì có người như ngươi?”
Người đàn ông kia xoay người định bỏ đi.
Thị vệ canh phía sau nhanh chóng chặn hắn lại.
Tri phủ cầm tờ lộ dẫn kia xem hồi lâu, sắc mặt càng lúc càng nặng nề.
“Là giả sao?”
Ta đáp:
“Ấn chưa chắc là giả, nhưng cái tên trên đó có thể không phải của hắn.”
Tri phủ cất tờ giấy vào trong tay áo, sai người áp giải hắn xuống để điều tra kỹ hơn.
Từ đó trở đi, không còn ai thúc giục chúng ta phải làm nhanh nữa.
Đến nửa đêm về sáng, các ngón tay ta đã lạnh cóng, lúc hạ bút còn viết sai liền hai cái tên.
Ta đang định rút tờ giấy ra viết lại thì một bàn tay đã đè lên trước.
Thôi Cảnh Hành chẳng biết đã ngồi xuống bên cạnh ta từ lúc nào.
“Còn hai trang, sáng mai viết tiếp.”
“Sáng mai còn phải đến phía nam thành.”
Ta đưa tay định lấy lại giấy, hắn lại giữ lấy cổ tay ta, rồi lục từ bên cạnh bàn ra một lọ thuốc và một chiếc khăn sạch.
Ta nhìn hắn một cái.
“Thôi đại nhân bây giờ ra ngoài còn mang theo thứ này bên mình sao?”
“Đi theo ngươi, ba ngày hai bận đều có lúc phải dùng đến.”
Hắn rắc thuốc bột lên vết thương, ta đau đến mức rụt tay lại.
Hắn không buông, chỉ lấy khăn quấn quanh các đốt ngón tay ta.
“Năm mười ba tuổi, ta bị đá hai cú, cũng chẳng yếu ớt đến vậy.”
“Năm mười ba tuổi, ngươi còn dám cắn người cơ mà.”
Ta lập tức nhớ đến đêm ở Nhạn Hồi Quan, không nhịn được nhìn bàn tay hắn.
“Thật sự để lại sẹo rồi sao?”
Thôi Cảnh Hành đưa tay ra.
Quả nhiên, bên cạnh hổ khẩu vẫn còn một vết sẹo.
Ta ghé sát lại nhìn, rồi dùng đầu ngón tay khẽ chạm vào đó.
“Thế này mà cũng tính là sẹo sao?”
“Kẻ cắn người đương nhiên sẽ cảm thấy chẳng đáng kể.”
Ta bật cười, định rút tay về. Hắn thuận thế lật lòng bàn tay lại, đầu ngón tay ta liền nằm gọn trong tay hắn.
Hai người ngồi sát nhau, ta thậm chí còn ngửi thấy mùi mực nhàn nhạt trên tay áo hắn.
Ta lập tức rút tay về trước, cúi đầu thu dọn giấy tờ trên bàn. Vốn là một chồng giấy ngay ngắn, vậy mà bị ta lật đến xộc xệch mấy tờ.
Thôi Cảnh Hành nhìn ta một lúc, bỗng nói:
“Đợi chuyện ở Thương Châu giải quyết xong, theo ta một chuyến đến kinh thành đi.”
Ta xếp giấy lại cho ngay ngắn.
“Lại có công vụ sao?”
“Lần này không phải đi làm việc công.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Thôi Cảnh Hành cúi đầu mở một quyển sổ khác, khóe môi thoáng cong lên.
“Ngày nào bên cạnh ta cũng có một Hứa cô nương đi theo. Suốt năm năm, đuổi mãi cũng không đi, mẫu thân ta dù sao cũng phải hỏi một câu.”
Ta chộp lấy cục giấy bỏ bên cạnh, ném thẳng về phía hắn.
Hắn nghiêng đầu né tránh.
Cục giấy rơi xuống chân bàn. Hắn cũng chẳng buồn nhặt, chỉ ngồi đó bật cười.
Ta cầm bút lên lần nữa. Viết đến dòng thứ ba, ta mới phát hiện một chữ đã bị mình tô đen sì, đành phải đổi sang tờ giấy khác.
Ngày hôm sau, chúng ta vẫn đến cửa nam như thường lệ.
Những người còn lại không thể xác minh rõ lai lịch được kiểm tra lại một lượt. Ai tìm được đồng hương thì tìm đồng hương, ai tra được hộ tịch cũ thì tra hộ tịch cũ.
Mấy ngày tiếp theo, người trong thành lũy ngoài lần lượt được sắp xếp chỗ ở, những túp lều cỏ dựng ngoài thành cũng được tháo dỡ từng căn.
Sau khi đợt hộ thiếp tạm thời đầu tiên được phát xuống chưa bao lâu, mấy thư lại từ châu lân cận đã tìm đến, muốn sao chép mẫu sổ sách mới mà chúng ta lập ra.
Ban đầu chỉ có ba người tới. Về sau, số người ngày càng đông, tri phủ dứt khoát dành riêng một gian phòng, để bọn họ tự mình ngồi sao chép theo mẫu.
Nửa tháng sau, mấy châu lân cận cũng bắt đầu dùng phương pháp này để tiếp nhận dân lưu lạc.
Đến khi túp lều cỏ cuối cùng bên ngoài thành được dỡ bỏ, mùa xuân đã đến.
Nơi từng dựng lều cỏ ở phía nam thành giờ đã mọc lên một khu nhà mới. Những người vào thành từ năm ngoái cũng lần lượt được chia đất.
Hạt giống vừa được gieo xuống ruộng, văn thư thúc giục nộp thuế của Hộ bộ đã được đưa đến Thương Châu. Những hộ dân vừa khôi phục hộ tịch bị yêu cầu nộp bù thuế của hai năm trước.
Ta cầm văn thư đến tìm tri phủ.
Ông đang thúc giục các huyện nộp đủ số thuế, trên bàn còn trải mấy phong công văn khẩn về quân lương. Sau khi đọc thứ ta đưa tới, ông chỉ đẩy bàn tính sang một bên.
“Quân lương phía bắc vẫn còn thiếu, cỏ cho ngựa cũng đã đứt hai nơi. Hộ bộ thúc giục quá gấp, trong tay ta thật sự không thể xoay ra bạc.”
Ta hỏi:
“Những người vừa vào thành năm ngoái cũng phải nộp bù sao?”
Tri phủ lật sổ sách xem qua.
“Tên tuổi đã được ghi lại vào hộ tịch mới, khoản thuế còn thiếu của hai năm ở nguyên quán cũng bị truy thu, tính cả vào hộ mới.”
Ngày hôm sau, ta đến Tân An thôn ngoài thành.
Tấm biển gỗ mới dựng ở đầu thôn từ mùa đông năm ngoái vẫn còn đó. Bên đường đã đỗ hai chiếc xe đến thu thuế.
Con trâu của một nhà vừa bị dắt ra ngoài, nam chủ nhân đuổi theo đến ven đường, nắm chặt dây cương không chịu buông.
Sai dịch giằng mấy lần vẫn không kéo ra được. Cuối cùng, hai người cùng xông lên, đè hắn xuống bùn.
Đi thêm về phía trước, một chiếc giường gỗ cũ nằm ngang ngoài sân, chiếc nồi sắt úp ngược bên chân giường, quanh miệng nồi vẫn còn dính lớp hồ gạo chưa cạo sạch.
Khi ta đến nhà Tống Vân Nương, cửa vẫn mở, đồ đạc trong nhà đã bị dọn đi gần hết, chỉ còn lại một chiếc bàn.
Vân Nương đang ngồi trên bậc cửa vá áo.
Chiếc áo bông nhỏ trong tay nàng, ta nhận ra. Đó là chiếc áo Hạnh Nhi từng mặc vào mùa đông năm ngoái. Tay áo đã ngắn mất một đoạn, trên khuỷu tay còn được vá bằng một miếng vải khác màu.
Ta đứng trước mặt nàng, nàng mới ngẩng đầu lên.
Hai mắt nàng sưng húp, mí mắt đỏ hoe, trên má vẫn còn mấy vệt nước mắt đã khô.
“Hạnh Nhi đâu?”
Bàn tay cầm kim của nàng run lên một chút, sau đó lại cúi đầu, khâu nốt mấy mũi còn lại.
“Vào thành rồi.”
Ta không hiểu.
Tống Vân Nương cắn đứt sợi chỉ, cúi người mò dưới bậc cửa, lấy ra một tờ giấy nhăn nhúm, gấp lại nhiều lần rồi đưa cho ta.
Ta mở ra xem, đó là một tờ khế bán thân.
Tám lượng bạc.
“Bán đi đâu rồi?”
Nàng khẽ đáp:
“Nhà họ Tào ở phía nam thành.”
Nói xong, nàng ôm chiếc áo bông nhỏ đặt lên đùi, dùng tay vuốt phẳng từng nếp nhăn.
“Ban đầu ta không chịu.”
Nói đến đây, chóp mũi nàng bỗng đỏ lên, bàn tay vẫn không ngừng vuốt đi vuốt lại trên áo.
“Người đến thu thuế đã tới nhà ta xem xét. Ta chẳng có trâu, còn cái nồi kia dù mang đi cũng chẳng đáng được bao nhiêu tiền. Hạnh Nhi bèn nói với ta rằng con bé đã tám tuổi, có thể làm việc kiếm sống rồi.”
Ta cúi đầu nhìn dấu tay trên khế bán thân.
Dấu tay nhỏ xíu, nhưng ấn rất mạnh, bên cạnh còn kéo ra một vệt đỏ.
“Là con bé tự ấn sao?”
Rất lâu sau, Tống Vân Nương mới gật đầu.
“Sau khi ấn xong, ta còn hỏi con bé có đau không.” Nàng vừa nói vừa cười, nhưng nước mắt lại rơi xuống chiếc áo bông nhỏ. “Nó nói không đau.”
Nhà họ Tào mở tiệm lương thực ở phía nam thành.
Khi ta vội vã chạy đến nơi, Hạnh Nhi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ ở sân sau, nhặt đậu. Bên chân con bé là một chiếc sọt tre rách, phía sau chất hai bao tải gai cao hơn cả người nó.
Con bé đã thay một bộ áo vải xanh cũ, tay áo dài hơn một đoạn, mỗi khi làm việc đều phải xắn lên hai lượt.
Thấy ta, con bé ngẩn người, vội vàng lau bụi trên tay vào vạt áo.
“Hứa cô nương.”
Ta đặt tám lượng bạc trước mặt quản sự.
“Đưa khế bán thân của con bé đây.”
Quản sự đếm bạc xong liền đi vào trong lấy khế.
Hạnh Nhi đứng bên cạnh ta, nhìn số bạc trên bàn rồi lại nhìn ta.
“Hứa cô nương, cô đến đón con về sao?”
“Ừ.”
Hạnh Nhi nhìn số bạc trên bàn, nhỏ giọng hỏi:
“Hứa cô nương, nếu con theo cô về, số bạc này vẫn phải nộp sao?”
Ta đáp:
“Vẫn phải nộp.”
Con bé mím môi, đứng yên một lúc, sau đó đưa tay đẩy số bạc về phía ta.
“Vậy con không về nữa.”
Ta sững người.
“Tại sao?”
“Ở đây con có cơm ăn.” Vừa nói, con bé vừa giơ hai ngón tay lên. “Buổi sáng có một bữa, buổi tối còn có một bữa nữa.”
Sợ ta không tin, con bé lại ghé sát vào, nhỏ giọng kể:
“Mỗi lần ăn cơm, mẹ con đều nói mẹ không đói, rồi gắp thức ăn trong bát sang cho con. Nếu con không về, mẹ sẽ không cần nhường cơm cho con nữa.”
Nói xong, con bé vội chạy về phía chiếc ghế đẩu lúc nãy, cúi xuống nhặt từng hạt đậu rơi trên đất, bỏ lại vào sọt tre.
Quản sự cầm khế bán thân đi ra, nhìn ta rồi lại nhìn con bé.
“Còn chuộc nữa không?”
Hạnh Nhi vẫn ngồi xổm ở đó, không ngẩng đầu lên, chỉ mải miết nhặt đậu.
Ta lần lượt thu từng thỏi bạc trên bàn lại.
Khi bước ra khỏi nhà họ Tào, phía sân sau vẫn vọng ra tiếng sọt tre bị kéo lê trên mặt đất.
Lúc ta trở về nha môn châu, trời đã rất khuya.
Thôi Cảnh Hành vẫn đang xem quân báo. Nghe tiếng cửa mở, hắn ngẩng đầu, trông thấy bọc bạc trong tay ta liền hỏi:
“Không chuộc con bé về được sao?”
Ta đặt bọc bạc lên bàn hắn.
“Con bé không chịu đi.”
Thôi Cảnh Hành nhìn ta.
Ta ngồi xuống, kể lại từ đầu đến cuối chuyến đi nhà họ Tào. Ta kể chuyện Hạnh Nhi mỗi ngày có hai bữa cơm, kể chuyện mẹ con bé luôn gắp thức ăn trong bát mình sang cho con.
Nghe xong, Thôi Cảnh Hành cầm tờ công văn thúc thuế lên.
“Đêm nay ta sẽ viết tấu chương, xin Hộ bộ tạm dừng truy thu khoản thuế cũ này, không để sai dịch tiếp tục đến tận nhà thu nữa.”
Ta hỏi:
“Chỉ tạm dừng thôi sao?”
“Muốn miễn thuế, còn phải được Hộ bộ chấp thuận.”
“Vậy phải đợi đến bao giờ?”
Thôi Cảnh Hành day day giữa hai đầu mày.
“Ba doanh trại phía bắc đều đang chờ lương thực, quân lương năm ngoái vẫn còn nợ. Vào lúc này, muốn Hộ bộ giảm bớt một khoản thu, bọn họ sẽ không dễ dàng đồng ý đâu.”
Ta đặt bọc bạc mang về từ nhà họ Tào trước mặt hắn.
“Hạnh Nhi bán mình được tám lượng, sáu lượng đem đi nộp thuế.”
Số bạc rơi xuống bàn, phát ra một tiếng nặng nề.
“Đợi đến khi bọn họ đồng ý, e rằng trẻ con trong thôn đều đã bị bán hết rồi.”
Thôi Cảnh Hành không nói gì.
Ta lại hỏi:
“Còn những trang viên lớn kia thì sao?”
“Ý ngươi là gì?”
“Trên đường chúng ta tra hộ tịch, có bao nhiêu trang viên có người sinh sống mà trong sổ sách của huyện lại chẳng có lấy một cái tên. Bọn họ hơn mười năm không nộp một đồng thuế nào. Hạnh Nhi vừa được cấp hộ thiếp mới mấy tháng, vậy mà thuế của hai năm trước đã tìm đến tận cửa.”
Thôi Cảnh Hành khép quân báo lại.
“Ngươi muốn tra xét ruộng đất của các trang viên?”
“Phải.”
Hắn đứng dậy, lấy mấy quyển sổ điền địa của các châu trên giá sách, ôm đến đặt trước mặt ta.
“Vậy thì tra.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Hắn đã giúp ta trải giấy, lại đẩy nghiên mực tới.
“Trước tiên viết cho rõ điều khoản miễn truy thu thuế cũ.”
Ta cầm bút, viết dòng đầu tiên:
Dân chúng mất hộ tịch vì chiến loạn, nay đăng ký lại hộ khẩu, không truy thu thuế những năm trước.
Viết xong điều khoản này, ta mở quyển sổ điền địa trên cùng ra.
Thôi Cảnh Hành ngồi xuống đối diện ta.
Đêm ấy, chúng ta lật từng trang sổ ruộng đất do các châu trình lên, mãi đến khi trời sáng.
16
Ngày thứ ba sau khi tấu trình được dâng lên, trước cổng nha môn châu đã chẳng lúc nào yên.
Ban đầu là hai xe gạo, sau đó có người khiêng đến một rương bạc. Lại có kẻ gửi danh thiếp, mời Thôi Cảnh Hành buổi tối đến phủ uống rượu, nói rằng nhà mình sẵn lòng quyên tặng hai mươi con ngựa cho biên quân.
Điều kiện đều giống nhau: chuyện thanh tra hộ tịch trong các trang viên, xin hãy tạm hoãn lại.
Thôi Cảnh Hành thậm chí không cho người mở nắp rương, chỉ bảo người gác cổng đưa tất cả trở về theo đúng đường cũ.
Khi ta bước ra khỏi hành lang, vừa hay gặp mấy gia nhân mặt mày xám ngoét đang khiêng bạc ra ngoài.
Thôi Cảnh Hành đứng dưới bậc thềm, đang buộc lại bao cổ tay. Thấy ta đi tới, hắn thuận miệng hỏi:
“Cười gì vậy?”
“Cười Thôi đại nhân chuyến này e rằng đắc tội với nửa Thương Châu rồi.”
Hắn chỉnh lại ống tay áo, đưa tay nhận roi ngựa từ thị vệ.
“Ai là người nghĩ ra chủ ý này?”
Ta lập tức đi về phía chuồng ngựa.
Hắn theo phía sau, lại hỏi: “Chạy cái gì?”
“Ai chạy chứ?” Ta xoay người lên ngựa.
Thôi Cảnh Hành đứng bên cạnh, tay giữ dây cương, không chịu tránh ra.
Ta cúi đầu nhìn hắn.
Hắn nói:
“Đợi tra xét xong các trang viên, hãy cho ta một câu trả lời rõ ràng về chuyện ở kinh thành.”
Ta đương nhiên biết hắn đang nói đến chuyện gì.
Ta cúi đầu, dùng roi ngựa khẽ gõ lên mu bàn tay hắn.
“Cảnh Hành, cứ tra xét các trang viên cho sạch sẽ trước đã.”
Hắn ngẩn người, rồi bật cười, buông dây cương ra.
“Được, ta đợi ngươi.”
Nơi đầu tiên chúng ta kiểm tra là trang viên nhà họ Ngô.
Trong sổ điền địa ghi có bảy mươi tư hộ. Vậy mà khi chúng ta vào trang viên lúc trời vừa sáng, khói bếp đã bốc lên từ hơn một trăm mái nhà.
Trang chủ vẫn cười nói lấy lòng, bảo rằng những hộ dư ra đều là người làm thuê ngắn hạn.
Ta tùy tiện gọi một người đàn ông đang gánh nước lại.
“Ngươi đến đây bao lâu rồi?”
Người ấy nghĩ ngợi một chút.
“Từ năm thành thân đã tới đây, tính ra mười sáu năm rồi.”
Vừa dứt lời, một thiếu niên đang tuổi lớn xách thùng nước từ trong sân đi ra, gọi hắn một tiếng cha.
Thôi Cảnh Hành đứng bên cạnh, liếc nhìn trang chủ một cái.
Nụ cười trên mặt trang chủ lập tức cứng đờ.
Hôm ấy, chúng ta kiểm tra đến khi lên đèn. Trang viên nhà họ Ngô có thêm bốn mươi ba hộ không được ghi trong sổ.
Chúng ta bày bàn trước từ đường, để từng người lần lượt tiến lên khai báo họ tên.
Ban đầu, chẳng ai dám nhúc nhích.
Một bà lão ôm cháu đứng giữa đám đông hồi lâu, mũi chân vừa nhích lên hai bước lại lùi về chỗ cũ.
Thôi Cảnh Hành trông thấy, liền khép quyển sổ trong tay lại.
“Ngày mai chúng ta vẫn sẽ đến.”
Nói rồi, hắn hất cằm về phía trang chủ.
“Những người hôm nay đã báo tên, nếu thiếu một người, ta sẽ hỏi tội ngươi trước.”
Lúc này, bà lão mới ôm đứa trẻ bước ra. Bà không biết viết chữ, lúc ấn dấu tay, bàn tay cứ run lên không ngừng.
Ta đọc lại tên trên tấm thẻ gỗ cho bà nghe.
Nghe xong, bà dùng tay áo lau sạch bàn tay, rồi lại sờ lên mấy chữ ấy một lần nữa.
Trong tháng tiếp theo, chúng ta chạy khắp ba huyện. Ban ngày, mỗi người dẫn theo thuộc hạ đi kiểm tra các trang viên; đến chạng vạng, tất cả lại trở về cùng một dịch quán để đối chiếu sổ sách.
Bên nào tra ra thêm được vài hộ, ngày hôm sau bên kia sẽ thức dậy sớm hơn nữa.
Có một ngày, trời còn chưa sáng hẳn, ta vừa mở cửa bước ra đã thấy Thôi Cảnh Hành dắt ngựa chờ dưới hành lang.
Hắn đưa dây cương cho ta, chẳng nói một lời.
Ta đặt chân lên bàn đạp, trèo lên ngựa rồi mới phát hiện dưới yên đã được lót thêm một lớp nỉ.
Mấy ngày trước, cưỡi ngựa khiến đùi ta bị cọ xát đến trầy da, nhưng chẳng ai nhắc đến chuyện ấy.
Ta cúi đầu nhìn hắn. Thôi Cảnh Hành đang giúp ta siết chặt khóa yên.
“Nhìn gì vậy?”
“Không có gì.” Ta quay mặt đi.
Hắn đứng bên dưới bật cười một tiếng.
Ngày chúng ta đến Thanh Hà huyện, vừa bước vào cổng trang viên đã trông thấy dấu son đỏ trên những chiếc xe lương thực.
Hơn mười chiếc xe dừng trước cổng, trên các bao tải đều đóng dấu chữ “Thôi”.
Trang chủ ra đón, thái độ vô cùng khách sáo, trước tiên chắp tay hành lễ.
“Hứa cô nương vất vả rồi. Chủ nhân nhà ta đã gửi thư cho Thôi đại nhân, bên trong còn chuẩn bị trà nước.”
Ta liếc nhìn những chiếc xe lương thực.
“Đây là trang viên của Thanh Hà Thôi thị?”
Trang chủ cười đáp:
“Đúng vậy, chính là bổn gia của Thôi đại nhân.”
Ta mở quyển sổ trong tay.
“Đưa sổ sách trang viên ra đây.”
Hắn ngẩn người.
“Cô nương, ta vừa nói rồi, đây là…”
“Ta nghe thấy rồi.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
“Bắt đầu từ phía đông.”
Hôm ấy, chúng ta kiểm tra đến tận canh hai. Trong sổ ghi hơn hai trăm hộ, nhưng trên thực tế lại có thêm một trăm hai mươi sáu hộ.
Ta kiểm tra xong hộ cuối cùng, lại đối chiếu từ đầu đến cuối thêm một lượt, lúc ấy mới khép sổ trở về thành.
Đèn trong thư phòng Thôi Cảnh Hành vẫn còn sáng.
Ta bước vào, đặt quyển sổ lên bàn hắn.
Hắn lật vài trang, rất nhanh đã nhìn thấy dòng chữ “Thanh Hà Thôi thị” ở trên cùng.
“Tra đến nhà ta rồi sao?”
“Ừ.”
Hắn tiếp tục lật xuống dưới.
“Bao nhiêu hộ?”
“Một trăm hai mươi sáu hộ.”
Thôi Cảnh Hành xem hết mấy trang ấy từ đầu đến cuối.
Ta đứng bên bàn chờ hắn.
Cuối cùng, hắn cầm bút, ghi tên mình vào cuối trang.
“Cứ báo cáo đúng sự thật.”
Ta liếc nhìn hắn một cái.
Hắn đã đặt quyển sổ sang bên cạnh, đưa tay cầm phong công văn tiếp theo, hỏi: “Còn việc gì nữa không?”
“Không còn.” Ta ôm quyển sổ trống ra ngoài.
Đến khi ta sắp bước qua cửa, hắn lại gọi: “Tri Vi.”
Ta quay đầu lại.
“Nếu người nhà ta đến tìm nàng, không cần để ý.”
“Vậy nếu là tìm ngài thì sao?”
Hắn cúi đầu mở công văn, đáp: “Đó là việc của ta.”
Lúc này ta mới rời đi.
Sáng sớm hôm sau, mấy phong thư khẩn được đưa suốt đêm từ kinh thành tới đã đặt ngay ngắn trên bàn hắn.
Mấy trang sổ sách về Thôi thị mà hôm qua ta tra xét đã bị rút riêng ra.
Điền trang của Cố gia và Lương gia cũng bị đặt sang một bên.
Ta cầm mấy tờ giấy lên, hỏi: “Đây là ý gì?”
Thôi Cảnh Hành thức trắng cả đêm, bên cạnh bàn đặt ba phong thư từ kinh thành gửi tới.
“Tạm thời gác mấy nhà này lại.”
Ta cúi đầu xem lại một lượt: “Hôm qua ta đã kiểm tra xong nhân khẩu rồi.”
“Ta biết.”
Hắn đẩy ba phong thư đến trước mặt ta.
Phong thư thứ nhất là bản đàn hặc của Ngự sử đài, cáo buộc việc thanh tra hộ tịch làm xáo trộn hương lý, chèn ép các gia tộc sĩ tộc.
Phong thư thứ hai là tấu chương do mấy đại tộc cùng nhau dâng lên.
Phong thư cuối cùng đến từ Hộ bộ. Nội dung viết rất rõ ràng: Nếu tiếp tục tra xét điền trang như vậy, việc bổ sung hộ tịch cho lưu dân vừa được khôi phục ở ba châu cũng sẽ phải tạm dừng, đưa ra bàn bạc lại.
Ta đọc xong thư, lại nhìn mấy trang sổ sách trên bàn.
“Vậy nên trước mắt không trình báo mấy trang này của Thôi gia?”
“Cố gia và Lương gia cũng vậy.” Thôi Cảnh Hành đáp. “Tạm thời gác lại vài ngày, đợi sóng gió trong triều lắng xuống rồi tính.”
Ta lật trang trên cùng. Một trăm hai mươi sáu hộ, hôm qua ta vừa kiểm tra từng người một, dấu tay vẫn còn in trên giấy.
“Vậy bọn họ phải làm sao?”
“Nhân khẩu đã tra rõ, tên tuổi cũng đều ở đây. Đợi mọi chuyện lắng xuống, lại bổ sung vào sổ tổng.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn: “Phải đợi bao lâu?”
Thôi Cảnh Hành không trả lời, chỉ nói: “Tri Vi, nàng cũng đã đọc phong thư của Hộ bộ rồi. Nếu hôm nay trình mấy trang này lên, ngày mai việc khôi phục hộ tịch ở ba châu thật sự bị đình chỉ, vậy mấy vạn người bên ngoài phải làm sao?”
“Cho nên một trăm hai mươi sáu hộ này, trước mắt không trình báo?”
Thôi Cảnh Hành im lặng một lát rồi nói: “Tạm thời gác lại vài ngày. Đợi trong triều nới lỏng, ta sẽ bổ sung bọn họ vào sổ.”
Ta nhìn hắn hồi lâu.
“Hạnh Nhi cũng chỉ chậm mất vài ngày.”
Thôi Cảnh Hành cau mày.
Ta tiếp tục nói: “Văn thư miễn thuế của Hộ bộ chỉ cần chậm xuống vài ngày, nương nàng ấy đã bán nàng ấy đi.”
“Đỗ Thanh Sơn cũng chỉ thiếu một mùa xuân. Đất đai còn chưa được phân xuống, quan phủ đã đến bắt tráng đinh.”
Thôi Cảnh Hành nói: “Những chuyện này ta đều biết.”
“Ngài biết.” Ta gật đầu. “Nhưng ngài vẫn cho rằng chậm vài ngày cũng chẳng sao.”
Hắn lập tức im bặt.
Một lúc lâu sau, hắn mới lên tiếng: “Nếu ta thật sự cho rằng bọn họ không đáng kể, hà tất phải cùng nàng tra xét đến tận hôm nay?”
Ta nhìn hắn: “Ta biết ngài không làm vậy vì Thôi gia.”
Lời này vừa thốt ra, trong phòng lại càng thêm yên tĩnh.
Ta chậm rãi đẩy mấy trang sổ sách trở về: “Chính vì biết điều đó, ta mới hiểu chuyện này không thể khuyên ngài thay đổi.”
Thôi Cảnh Hành nhìn ta.
Ta chỉ vào một trăm hai mươi sáu cái tên kia.
“Trong mắt ngài, tên tuổi của bọn họ đã được tìm lại. Chậm vài ngày mới ghi vào sổ, dù sao cũng tốt hơn việc mấy vạn người ở ba châu đều không thể nhập tịch.”
“Nhưng ta đã tận mắt thấy những người chờ đợi mấy ngày ấy.”
“Có người chờ mãi, cuối cùng phải bán cả con gái. Có người chưa chờ được đất đai, đã bị quan phủ bắt đi trước. Còn có người ch*t dưới chân thành, đến tận lúc lâm chung mới hỏi ta rằng tên tuổi của mình liệu có được tính hay không.”
Ta dừng lại một chút.
“Ngài bảo ta chờ thêm một lần nữa, ta không dám.”
Tay Thôi Cảnh Hành vẫn đè trên quyển sổ.
Hắn thấp giọng hỏi: “Vậy nàng muốn ta phải làm thế nào? Thật sự đem mấy vạn người bên ngoài ra đánh cược sao?”
“Ta không bảo ngài đánh cược.” Ta nhìn hắn. “Ngài cứ làm theo cách của mình.”
Ta đưa tay tháo thẻ sai dịch bên hông xuống, đặt lên bàn.
Sắc mặt Thôi Cảnh Hành cuối cùng cũng thay đổi.
“Tri Vi.”
“Ta chỉ không thể cùng ngài rút mấy trang này ra.”
“Chỉ vì chuyện này thôi sao?”
Ta ôm quyển sổ của mình lên, đi đến bên cửa. Đến đó, ta chợt nhớ lại lời mình đã nói hôm qua ở nơi này.
Ta quay đầu nhìn hắn.
“Hôm qua ta còn nghĩ, ngay cả điền trang của Thôi gia mà ngài cũng chịu tra xét như thường, vậy ta sẽ cùng ngài đến kinh thành.”
Thôi Cảnh Hành đứng bật dậy.
Ta không đợi hắn lên tiếng, chỉ nói:
“Thôi đại nhân, ta không đi nữa.”
Đêm đó, ta thu dọn đồ đạc trong hành dinh, xếp vào rương gỗ rồi chuyển đến hậu viện nha môn châu.
Thị vệ giúp ta mang đồ đến cổng viện, do dự hỏi:
“Hứa cô nương, có cần báo với đại nhân một tiếng không?”
“Không cần.”
Sáng sớm hôm sau, ta vẫn đến phòng hộ tịch như thường lệ.
Trước cửa đã đổi một sai dịch mới. Hắn không nhận ra ta, liền đưa tay đòi danh thiếp.
Trên chiếc ghế dài dưới hành lang có một phụ nhân đang ngồi, trong lòng ôm một bọc vải cũ, giày dính đầy bùn khô, trông có vẻ đã chờ đợi khá lâu.
Trước cửa phòng hộ tịch quanh năm đều có người chờ đợi như vậy. Ta chỉ nghĩ bà ấy cũng đến làm việc, bèn đưa danh thiếp cho sai dịch.
Hắn cúi đầu nhìn một cái.
“Hứa Tri Vi?”
“Phải.”
Phía chiếc ghế dài bỗng vang lên tiếng vải vóc sột soạt.
Khi ta quay đầu lại, phụ nhân kia đã đứng dậy.
Bà ôm bọc vải đi đến trước mặt ta, nhìn chằm chằm gương mặt ta hồi lâu mới hỏi:
“Cô nương, cô chính là Hứa Tri Vi kia sao?”
Ta nhìn bà: “Bà tìm ta?”
Bà không trả lời, mà hỏi trước: “Cô nương là người Bình Châu phải không?”
“Phải.”
“Năm nay mười tám tuổi?”
Ta gật đầu.
Bà lại tiến lên một bước: “Năm năm trước, có phải cô từ Nhạn Hồi Quan vào thành không?”
Ta không lập tức trả lời.
Bà sốt ruột đến mức giọng nói cũng run rẩy.
“Ta đã hỏi thăm suốt nửa năm. Người ta đều nói Hứa cô nương đến từ Bình Châu, năm năm trước từng ở Nhạn Hồi Quan, tuổi tác cũng khớp.”
Vừa nói, bà vừa bước đến trước mặt ta, ngẩng đầu chăm chú nhìn từng đường nét trên gương mặt ta.
“Không đúng.”
Ta siết chặt tấm danh thiếp trong tay.
Bà lại tiến gần thêm một chút, dường như vẫn chưa chịu từ bỏ, nhìn kỹ mắt mũi ta thêm lần nữa.
“Không đúng…”
Nước mắt bà tuôn rơi.
“Cô không phải con gái ta.”
Người qua lại trước cửa dần dần dừng bước.
Ta hỏi: “Con gái bà tên gì?”
Phụ nhân nhìn chằm chằm ta.
“Hứa Tri Vi.”
Bà cúi người mở bọc vải trong lòng, lấy ra một chiếc hộp gỗ nhỏ được bọc bằng mấy lớp vải cũ.
Trong hộp có nửa tờ giấy đã ngả vàng, cùng một sợi dây buộc tóc màu đỏ phai bạc.
“Ta tên Thẩm Lan Nương, nhà chồng họ Hứa.”
Bà đưa nửa tờ giấy ấy đến trước mặt ta, hai tay run rẩy không ngừng.
“Cô nương, ta đã tìm con bé suốt năm năm.”
Bà đưa tay nắm lấy tay áo ta, các khớp ngón tay trắng bệch vì dùng sức.
“Cô là Hứa Tri Vi, vậy con gái ta đâu?”
17
Ta đưa Thẩm Lan Nương vào căn phòng nhỏ bên cạnh phòng hộ tịch, rót cho bà một bát nước.
Bà dùng cả hai tay ôm lấy bát, nhưng chẳng uống một ngụm nào.
“Năm năm trước, hai người đã thất lạc ở đâu?”
“Du Kiều.” Bà đáp. “Loạn binh tràn đến, mọi người đều chạy tán loạn. Ta bị người ta đưa về phía đông, Tri Vi theo một nhóm khác đi về phía Nhạn Hồi Quan. Trên người con bé có một tờ quan điệp qua cửa ải, chính tay ta đã nhét vào vạt áo nó.”
Ta hỏi: “Tờ quan điệp ấy trông thế nào?”
“Do Bình Châu cấp, tháng mười hai hết hạn. Con bé khi ấy mười ba tuổi, cổ tay phải có một vết sẹo bỏng.”
Nói đến đây, bà lại vội vàng bổ sung:
“Con bé mặc áo bông màu xám, ở cổ tay áo có một miếng vải xanh do chính tay ta vá.”
Trong chớp mắt, ta nhớ đến đoạn tay áo đã đông cứng vì giá rét kia.
Áo bông màu xám, tay áo bên phải, một miếng vải xanh đã phai màu.
Năm năm trước, chính ta đã lấy tờ quan điệp từ tay cô nương mặc chiếc áo ấy.
Còn hai lần ghi tên “Hứa Tri Vi” vào mùng bảy và mùng tám trên sổ sách, sau này đã tra rõ, đều là sổ sách giả do quan giữ cửa ải dùng tên của lưu dân ngoài thành để ghi khống.
Hứa Tri Vi thật sự chưa từng vào Nhạn Hồi Quan.
Thẩm Lan Nương nhìn chằm chằm ta.
“Cô đã gặp con bé, đúng không?”
Ta gật đầu.
“Đã gặp.”
Bà nhích người về phía trước.
“Con bé đâu rồi?”
Ta hé miệng, hồi lâu mới thốt ra được một câu:
“ch*t rồi.”
Cả người Thẩm Lan Nương chao đảo. Bà chống tay lên mép bàn.
“ch*t khi nào?”
“Năm năm trước, vào ngày ta tiến vào Nhạn Hồi Quan.”
“ch*t thế nào?”
“ch*t cóng dưới chân thành.”
Trong phòng lặng ngắt.
Bà vịn bàn đứng rất lâu, sau đó mới hỏi tiếp:
“Vậy cô lấy quan điệp của con bé bằng cách nào?”
Ta nhìn bà.
“Ta lấy từ tay nàng ấy.”
Vai Thẩm Lan Nương lập tức sụp xuống.
Bà không mắng ta, cũng không nhào đến đánh ta, chỉ vịn mép bàn, chậm rãi ngồi xuống.
Rất lâu sau, bà mới hỏi:
“Thi thể đâu rồi?”
“Sau khi ta vào thành, thi thể của những người ch*t ngoài thành đều được thu gom, đưa đến nghĩa trang.”
Bà dùng tay áo lau mặt.
“Ta đã tìm con bé suốt năm năm.”
Ta không lên tiếng.
“Nghe nói ở Thương Châu có một Hứa cô nương, ta còn nghĩ trên đời sao có chuyện trùng hợp đến vậy. Đều là người Bình Châu, tuổi tác khớp nhau, lại đều từ Nhạn Hồi Quan đi ra…”
Bà ngẩng đầu lên, đôi mắt đã sưng đỏ.
“Suốt dọc đường, ta cứ sợ mình nhận nhầm.” Nói đến đây, nước mắt bà lại rơi xuống. “Cô nương, cô dùng tên con bé để giữ mạng, ta không trách cô.”
“Vào thời điểm ấy, ai mà chẳng muốn sống?”
Bà nắm lấy tay áo ta, các ngón tay run rẩy dữ dội.
“Nhưng bây giờ, ai ai cũng biết đến cô. Vậy còn Tri Vi của ta thì sao?”
“Sau khi con bé ch*t, đến cả tên tuổi cũng không còn nữa ư?”
Ta cúi đầu, nhìn tấm danh thiếp trên bàn.
Trên đó, ba chữ Hứa Tri Vi được viết rõ ràng.
Cái tên này ta đã dùng suốt năm năm. Ta dùng nó để vào thành, lĩnh lương thực, bước chân vào nha môn, rồi mang theo nó đi khắp ba châu.
Còn Hứa Tri Vi thật sự, giờ đây chỉ còn lại một nấm mồ không thể xác định vị trí ở bên ngoài Nhạn Hồi Quan.
Ta cất tấm danh thiếp đi.
“Bà đợi ta một lát.”
Thẩm Lan Nương ngẩng đầu nhìn ta.
Ta sang gian ngoài lấy giấy bút, rồi trở lại ngồi trước mặt bà, hỏi:
“Tri Vi sinh năm nào? Nhà ở đâu?”
Bà sững người, nhưng vẫn lần lượt trả lời từng câu.
Ta trải giấy ra, ghi rõ năm sinh, quê quán cùng tên cha mẹ của Hứa Tri Vi, rồi viết thêm một dòng: ch*t cóng bên ngoài Nhạn Hồi Quan năm năm trước.
Đến cuối trang, ta viết riêng một dòng nữa:
Người hiện đang sử dụng tên Hứa Tri Vi, tự nhận tội mạo danh nhập tịch.
Thẩm Lan Nương nhìn thấy ta ấn dấu tay, lập tức đè tay lên tờ giấy.
“Cô nương, cô đang làm gì vậy?”
“Dù sao cũng phải viết lại tên con gái bà trước đã.”
Bà hoảng hốt nói: “Ta đến tìm con gái, chứ không hề có ý hại cô!”
“Ta biết.” Ta gấp tờ đơn kiện lại, đưa cho thư lại bên ngoài. “Chuyển đến hình phòng.”
Chưa đầy hai canh giờ sau, Tư ngục đã dẫn sai dịch tới.
Thôi Cảnh Hành cũng đến. Hắn vừa vào cửa đã cầm tờ đơn kiện lên, đọc từ đầu đến cuối, sắc mặt càng lúc càng trầm xuống.
“Nàng tự mình đệ đơn?”
“Ừm.”
“Tội mạo danh nhập tịch là gì, nàng không biết sao?”
“Biết.”
Thẩm Lan Nương vội vã từ gian trong bước ra: “Đại nhân, nàng ấy không hại ta, là chính ta tìm đến!”
Tư ngục đứng bên cạnh lên tiếng: “Thôi đại nhân, vụ án đã được chuyển đến hình phòng. Hứa cô nương những năm qua đều dùng cái tên này để ra vào các châu huyện, trên văn thư thanh tra hộ tịch cũng có chữ ký của nàng. Hôm nay, chúng ta nhất định phải đưa nàng đi.”
Thôi Cảnh Hành siết chặt tờ đơn trong tay.
“Ta đứng ra bảo lãnh cho nàng.”
Tư ngục không dám đáp lời.
Thôi Cảnh Hành quay sang nhìn ta.
“Đi theo ta.”
Ta lắc đầu: “Bây giờ ta mà rời đi, ngày mai bọn họ sẽ dám nói tất cả sổ sách qua tay ta những năm qua đều là giả.”
Hắn nhìn ta hồi lâu.
Ta đưa danh thiếp cho Tư ngục.
“Đi thôi.”
Sai dịch đi trước mở cửa, ta theo sau bước ra khỏi phòng hộ tịch.
Những người đang chờ làm việc ngoài cửa lần lượt tránh sang hai bên. Thẩm Lan Nương đứng dưới hành lang, một tay vẫn còn vịn khung cửa.
Khi ta đi ngang qua bà, bà khẽ gọi:
“Cô nương.”
Sau đó, phía sau không còn tiếng động nào nữa.
Nhà lao của châu nằm ngay phía sau nha môn. Vừa vào cửa, ta đã bị khám người. Túi tiền bên hông, mộc bài, trâm cài tóc đều lần lượt bị lấy xuống. Ngục lại xếp từng món vào khay gỗ, đẩy sang góc bàn.
Hắn mở sổ, chấm bút vào nghiên mực.
“Họ tên.”
Nhìn ô trống trước mặt, ta chợt nhớ đến lời vị tướng sĩ năm ta lên bảy, khi ông ta đứng trước cổng dịch trạm.
“Cái tên thứ ba, phải đợi đến khi không còn ai có thể đặt tên thay nàng nữa.”
Khi ấy, cha ta đá ông ta văng ra ngoài, còn ta trốn sau cánh cửa cười khúc khích.
Về sau, A Mãn đã bỏ mạng trong trận hỏa hoạn năm ấy, còn cái tên Hứa Tri Vi, ta lại dùng suốt năm năm trời.
Bây giờ, cũng đến lúc phải trả lại rồi.
Ngục lại ngẩng đầu nhìn ta, hỏi thêm lần nữa:
“Họ tên?”
Ngòi bút lơ lửng trên giấy, giọt mực chậm rãi rơi xuống.
Ta nhìn ô trống ấy.
“Tạm thời cứ để trống.”
18
Ta bị giam trong lao đến ngày thứ bốn mươi ba thì phê văn của Hình bộ được đưa tới.
Tội mạo danh nhập tịch, dùng hộ tịch giả để ghi tên vào sổ quân hộ và sổ lương thực: đánh tám mươi trượng, lưu đày ba nghìn dặm.
Ngục tốt đến đo cùm chân, còn hỏi ta có muốn mang thêm áo dày khi lên đường hay không.
Ta nói không cần.
Hắn liếc nhìn ta.
“Nơi lưu đày xa lắm, mùa đông có thể ch*t cóng đấy.”
Ta ăn hết bát cơm tù, không nói thêm lời nào.
Hắn thu thước lại rồi đi ra ngoài.
Ban đầu, Thôi Cảnh Hành vẫn đến thăm ta vài lần.
Đến ngày thứ bảy, hắn bước vào nhà lao với sắc mặt vô cùng nặng nề.
“Kinh thành muốn đình chỉ việc thanh tra hộ tịch ở ba châu.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
“Vì ta sao?”
“Bọn họ đang vin vào vụ án của nàng để gây chuyện.” Thôi Cảnh Hành đặt một bản sao tấu chương lên bàn. “Bọn họ nói người chủ trì thanh tra hộ tịch mà chính mình cũng là kẻ mạo danh nhập tịch, vậy những sổ sách mới của ba châu cũng không thể tin được nữa.”
Ta nhìn tờ giấy hồi lâu.
“Ngài phải về kinh sao?”
“Ngày mai đi.”
“Về đó làm gì?”
Hắn nhìn ta.
“Không để bọn họ đình chỉ.”
Sau khi Thôi Cảnh Hành rời đi, tin tức bên ngoài cũng hoàn toàn đứt đoạn.
Hơn mười ngày sau, lúc đưa cơm, ngục tốt mới vô tình tiết lộ một câu rằng nha môn châu đã niêm phong sổ sách mới, những thư lại trước đây theo ta thanh tra hộ tịch cũng đều bị đình chỉ công việc.
Ta hỏi: “Vẫn đình chỉ rồi sao?”
Hắn đẩy bát cơm qua song sắt.
“Người bên trên tranh đấu, kẻ xui xẻo chẳng phải vẫn là người bên dưới sao?”
Đến ngày thứ sáu mươi mấy, trong lao bỗng nhiên liên tục có người bị nhốt vào.
Đợt đầu tiên là những binh lính đào ngũ.
Trong số đó có một nam nhân bị dây thừng mài rách cổ chân, máu thịt lẫn lộn. Vừa vào lao, hắn đã ngồi xổm bên tường chửi rủa suốt nửa đêm.
Ta hỏi vì sao hắn bỏ trốn.
Hắn nói huyện nha lại dựa theo sổ hộ tịch cũ để bắt tráng đinh. Cha hắn đã ch*t bốn năm mà tên vẫn còn trong sổ, ca ca mất tích hai năm cũng chẳng có ai xóa tên.
Quan sai cứ theo quy định mỗi nhà bốn đinh mà bắt người, cuối cùng trói cả hắn lẫn đệ đệ mười lăm tuổi cùng đưa đi.
Mấy ngày sau, huyện Thanh Hà lại đưa đến hơn mười phạm nhân.
Lần này là những bách tính đập phá doanh trại tuyển quân.
Có người nói huyện nha không đủ quân số, bèn đến các thôn lưu dân vừa được ghi vào hộ tịch để bắt người. Mấy thôn vốn đã vất vả lắm mới ổn định được cuộc sống, chỉ trong một đêm đã bỏ trốn quá nửa.
Chẳng bao lâu sau, việc lương thực cũng xảy ra biến loạn.
Tiền tuyến thúc giục quá gấp, các châu huyện vẫn dựa theo sổ hộ tịch cũ để phân bổ lương thực. Tên người ch*t vẫn bị tính phần lương, những hộ đã bỏ trống từ lâu vẫn có người đến thu.
Thu không đủ, sai dịch liền vào thôn dỡ đồ đạc mang đi.
Huyện Phong Ninh là nơi đầu tiên bốc cháy nha môn.
Ngày hôm sau, nhà lao của châu lại nhốt thêm hơn hai mươi người.
Ngay cả ngục tốt đưa cơm cũng không nhịn được mà chửi một câu:
“Bên ngoài sắp loạn đến nơi rồi!”
Sáng sớm ngày thứ bảy mươi tám, bốn cổng thành của châu thành đều đóng chặt. Ngựa trong nha môn chạy tới chạy lui suốt cả buổi sáng.
Đến giữa trưa, cửa nhà lao cuối cùng cũng mở ra.
Thôi Cảnh Hành đi đầu.
Hắn gầy đi rất nhiều, giữa hàng mày và khóe mắt đều là vẻ mỏi mệt. Quan phục cũng chẳng còn chỉnh tề như trước, vạt áo hằn đầy nếp gấp, trên vai còn vương bụi đường chưa phủi sạch.
Theo sau hắn là Thị lang Hộ bộ.
Chu thị lang bước vào, không ngồi xuống mà trực tiếp ném một quyển quân tịch lên bàn.
“Một doanh trại ở phía bắc, sổ sách ghi có mấy nghìn người. Mấy ngày trước, quân địch áp sát biên giới, số người thực sự có thể lên thành nghênh chiến lại thiếu gần một nửa.”
Ta lật vài trang. Họ tên, quê quán, số quân lương từng lĩnh, tất cả đều được ghi chép rõ ràng.
Ông ta lại lấy ra một quyển hộ tịch.
“Vài châu khác cũng vậy. Người ch*t vẫn còn tên trong sổ, người bỏ trốn không ai xóa hộ tịch. Trong các điền trang có hàng nghìn người sống bị che giấu, quan phủ lại chẳng hay biết một ai.”
“Muốn trưng binh thì không tìm được người. Muốn thu lương thì chiếu theo sổ sách cũng chẳng thu nổi.”
Ta hỏi: “Hộ bộ chưa từng thanh tra lại sao?”
“Đã thanh tra rồi.” Chu thị lang đưa thêm mấy quyển sổ mới đến trước mặt ta. “Dựa theo cách làm của ba châu các ngươi để lập lại hộ tịch, có người trong cùng thôn đứng ra bảo chứng, có khế ước cũ để đối chiếu, tất cả đều đã ghi vào điều lệ.”
Ta lật vài trang, rất nhanh đã nhìn ra vấn đề.
Mỗi cột đều được điền kín mít, ngay cả một chỗ trống cũng không có.
“Những sổ này do ai tra xét?”
“Các huyện tự tra, tự báo lên.”
Ta khép sổ lại.
“Vậy đương nhiên không thể tra ra được.”
Chu thị lang cau mày.
“Ý ngươi là gì?”
“Trước kia các huyện che giấu bao nhiêu người, bây giờ vẫn để chính các huyện tự khai báo. Trong điền trang giấu bao nhiêu hộ, cũng vẫn đi hỏi trang đầu lấy sổ sách.”
Ta lật quyển sổ trên cùng trở lại, chỉ vào một hộ trong đó.
“Loại sổ sách này càng ghi chép đầy đủ, càng không đáng tin.”
Chu thị lang nhìn ta.
Ta tiếp tục nói:
“Khi tra hộ tịch ở ba châu, chúng ta chưa bao giờ chỉ xem một nguồn. Hộ tịch đối chiếu khế đất, khế đất đối chiếu hôn thư. Nếu không tìm thấy, liền lật sổ chùa chiền, sổ cứu tế cũ, sau đó tìm người cùng thôn hỏi chuyện.”
“Trang đầu nói trong điền trang chỉ có bảy mươi hộ, chúng ta liền vào trang đếm bếp, hỏi từng người. Doanh trại báo có ba nghìn quân, chúng ta liền đến tận nơi điểm danh từng người một.”
Chu thị lang nói: “Những cách này, Hộ bộ đều đã ghi vào điều lệ.”
“Ghi vào điều lệ thì vô dụng, phải thật sự có người đi làm.”
Ta đẩy quyển sổ trở lại.
“Những thư lại từng theo ta đi khắp ba châu đâu rồi?”
Trong phòng chợt yên lặng.
Thôi Cảnh Hành đáp: “Có người bị đình chỉ chức vụ, có người vẫn đang chờ xét xử.”
Ta nhìn Chu thị lang.
“Trước tiên hãy thả bọn họ ra.”
Chu thị lang cau mày.
“Hôm nay ta đến đây là để hỏi ngươi cách giải quyết tình hình hỗn loạn trước mắt.”
“Một mình ta không giải quyết được.” Ta chỉ vào những quyển sổ trên bàn. “Những thứ này, một mình ta cũng không tra xét hết nổi.”
Bên ngoài cửa lao lại có phạm nhân bị áp giải vào. Tiếng xiềng xích kéo lê trên nền đá vang lên suốt một đoạn đường.
Đợi âm thanh ấy đi xa, ta mới tiếp tục:
“Nếu các vị muốn ta ra ngoài, vậy hãy gọi những người trước đây trở về, đồng thời cấp cho họ văn thư để có thể vào điền trang, tra hồ sơ cũ và kiểm tra quân tịch.”
Chu thị lang hỏi: “Còn gì nữa?”
“Những người làm mất hộ thiếp không thể chỉ dựa vào giấy tờ quê quán cũ để xác minh. Nếu có người đồng hương đứng ra bảo chứng, hôn thư và khế ước cũ có thể đối chiếu với nhau, thì phải cho họ nhập tịch.”
“Thuế còn nợ trong những năm chiến loạn, không được tiếp tục truy thu từ những hộ mới.”
“Phụ nữ dù không có chồng hay cha anh cũng được tự lập hộ tịch. Người đã ch*t phải được xóa tên kịp thời.”
Ta nhìn ông ta.
“Còn có điền trang.”
Chu thị lang hỏi: “Điền trang của các thế gia cũng tra sao?”
Thôi Cảnh Hành vẫn luôn im lặng.
Đến lúc này, hắn mới lấy từ phía sau ra một quyển sổ, đặt lên bàn.
Trên bìa có bốn chữ: Thanh Hà Thôi thị.
Ta mở trang đầu tiên.
Một trăm hai mươi sáu hộ từng bị rút khỏi sổ sách trước kia đều đã được bổ sung trở lại. Phía sau còn thêm khế đất, sổ tá điền, ngay cả mấy điền trang chưa từng khai báo với quan phủ cũng được ghi chép đầy đủ bên trong.
Trang cuối cùng đóng dấu đại ấn của huyện Thanh Hà.
Chu thị lang lật hai trang, ngẩng đầu hỏi hắn:
“Thôi gia các ngươi chịu giao ra thật sao?”
“Không chịu.” Thôi Cảnh Hành đáp. “Tấu chương trong tộc tố cáo ta, hôm qua đã được đưa vào kinh.”
Chu thị lang cầm mấy trang giấy, nhìn hồi lâu rồi nói:
“Lần này ngươi đắc tội không ít người đâu.”
Thôi Cảnh Hành không tiếp lời, chỉ đẩy quyển sổ về phía trước.
“Cứ báo cáo đúng sự thật.”
Ta lật từ đầu đến cuối, khép sổ lại rồi cũng đẩy đến trước mặt Chu thị lang.
“Điền trang của những nhà khác cũng phải tra theo quy củ này.”
Chu thị lang nhìn ta, rồi lại nhìn Thôi Cảnh Hành. Cuối cùng, ông ta thu quyển sổ lại.
“Được. Nếu các ngươi đã dám ra tay với chính nhà mình trước, khi trở về kinh, ta cũng dễ mở lời hơn.”
Nói xong, ông ta lấy từ trong tay áo ra một văn thư khác, đặt lên bàn.
“Còn vụ án của ngươi, bên Hình bộ đã đồng ý xem xét lại.”
Ta không nhận lấy.
Chu thị lang nói tiếp:
“Hứa Tri Vi thật sự đã được xác minh là ch*t rồi, ngươi không thể tiếp tục dùng cái tên này. Nếu triều đình muốn bổ nhiệm ngươi làm Thanh tịch sứ, trước hết cũng phải lập lại hộ tịch cho ngươi.”
Ông ta lại lấy ra một tấm hộ thiếp mới. Quê quán và tuổi tác đều đã được điền đầy đủ, ngay cả cột họ tên cũng có chữ.
Ta liếc nhìn một cái.
“Ai đặt tên?”
“Trong cung định ra.”
Ta cầm bút, gạch bỏ mấy chữ ấy.
Sắc mặt Chu thị lang lập tức trầm xuống.
“Đây là ngự tứ danh.”
“Vậy xin thu hồi.”
Thôi Cảnh Hành đứng bên bàn, nhìn ta nhưng không nói gì.
Chu thị lang hỏi:
“Ngay cả chuyện này, ngươi cũng nhất định phải tự mình quyết định sao?”
Ta đẩy tấm hộ thiếp trở lại.
“Tội của ta có thể chiếu theo luật mà xem xét lại, công việc cũng có thể làm theo chiếu lệnh của triều đình. Nhưng xin hãy để ta tự chọn tên mình.”
Chu thị lang đứng hồi lâu, cuối cùng mới thu tấm hộ thiếp vào tay áo.
“Ta sẽ trở về kinh xin chỉ.”
Ta gọi ông ta lại:
“Trước tiên hãy thả những thư lại kia. Nếu cứ trì hoãn thêm vài ngày, đợi đến khi ta ra ngoài, người bên ngoài đã chạy sạch cả rồi.”
Hơn mười ngày sau, nhà lao của châu lần đầu tiên mở rộng cổng chính giữa ban ngày.
Thánh chỉ mà Chu thị lang mang về chỉ có một trang.
Người mất hộ tịch trong thời loạn có thể dựa vào nhiều loại chứng cứ cũ để khôi phục hộ tịch; hộ mới được miễn truy thu thuế cũ trong những năm chiến loạn; nữ tử có thể tự lập hộ; quân tịch khống và những hộ bị che giấu trong điền trang đều phải được thanh tra toàn diện.
Cuối văn thư đóng ngự ấn.
Hình phạt đánh trượng và lưu đày của ta đều được bãi bỏ. Ấn tín Thanh tịch sứ phụ trách bảy châu được đặt ngay bên cạnh thánh chỉ.
Khi ngục tốt tháo cùm chân cho ta, vòng sắt đã cọ lên cổ chân thành hai vệt đen đỏ.
Ngoài cửa, hơn mười người quen đã đứng đợi từ lâu.
Có người ôm sổ sách cũ, có người đeo tay nải trên lưng, lại có người xách chiếc bàn tính đã dùng suốt bao năm. Tất cả đều là những thư lại từng theo ta đi khắp các châu huyện trong những năm qua.
Người đứng đầu đưa cho ta một tấm hộ thiếp mới.
19
Cột họ tên vẫn còn để trống.
Ta nhận lấy bút, viết lên đó hai chữ: Ninh Chiêu.
Ninh thân quy ngã, danh tự chiêu nhiên.
(Nguyện thân này được trở về với chính mình, tên tuổi sáng tỏ giữa thế gian.)
Thư lại kia đọc theo một lần: “Ninh Chiêu?”
“Ừm.”
Hắn nhận lấy hộ thiếp, chép tên mới vào sổ tổng, sau đó đưa cho ta chiếc hộp đựng ấn tín của Thanh tịch sứ.
Chưa đầy một canh giờ sau khi ra khỏi lao, chúng ta đã lên xe ngựa đi Thanh Hà. Dọc đường, các dịch trạm đều dán đầy văn thư thúc giục tuyển quân.
Khi ta đến Thanh Hà, bên ngoài doanh trại tuyển quân đã có mấy trăm người vây kín.
Có phụ nhân ôm con đứng chắn trước cổng, khóc lóc không ngừng. Người trong doanh trại vẫn dựa theo sổ sách cũ để điểm đinh. Nếu tên tuổi không khớp, họ liền bổ sung người từ những hộ mới được ghi vào hộ tịch.
Khi ta bước vào, một thiếu niên mười lăm tuổi đang bị người ta đè tay bắt điểm chỉ.
Cha hắn đã ch*t ba năm, vậy mà tên vẫn còn trong sổ tráng đinh.
Thư lại đồng thời lật sổ hộ tịch cũ, sổ ghi chép thi thể được thu gom tại nghĩa trang và sổ cứu tế của năm kia, rất nhanh đã tìm thấy tên cha hắn.
Ta đưa bút son qua.
“Xóa tên.”
Thiếu niên còn chưa kịp hoàn hồn, binh lính đang giữ hắn đã buông tay.
Một nam nhân bên cạnh vội vàng chen lên:
“Đại nhân, cha ta cũng ch*t rồi!”
Phía sau lập tức trở nên hỗn loạn.
Ta giơ tay, bảo người khiêng bàn đến.
“Người ch*t, tra trước. Những người chưa đủ mười tám tuổi, thả ra trước. Những người còn lại xếp hàng theo từng thôn, lần lượt giải quyết.”
Các thư lại đi theo ta lập tức tản ra làm việc. Người đi lấy sổ cũ, người tìm người cùng thôn để hỏi, còn có người trực tiếp vào doanh trại điểm danh từng người.
Cuộc thanh tra kéo dài suốt ba ngày. Tên trong sổ bị gạch đi hết đợt này đến đợt khác, đồng thời lại có những cái tên mới được bổ sung vào.
Sáng sớm ngày thứ tư, doanh trại mở lại buổi điểm danh.
Lần này, cứ gọi một cái tên, liền có một người đáp lời.
Vừa giải quyết xong việc ở Thanh Hà, Sóc Châu đã gửi công văn khẩn đến. Mấy đại điền trang tại địa phương từ chối giao nộp sổ tá điền, ngay cả cửa huyện nha cũng không thể bước vào.
Khi ta đến nơi, cổng điền trang đóng chặt, trên đầu tường còn có hộ viện đứng canh.
Ta đọc đến câu: “Hộ ẩn trong điền trang, phải được thanh tra như dân hộ bình thường”, bên trong cổng liền yên tĩnh trở lại.
Quản sự cách cánh cửa cười lạnh:
“Ninh đại nhân? Đến cả quê quán tổ tiên của mình, ngươi còn chẳng nói rõ được. Trước kia chẳng qua chỉ là một lưu dân ngoài thành. Bây giờ trong tay có một phương quan ấn, thật sự tưởng mình có thể tra xét đến tận cửa nhà ta sao?”
“Tri huyện không tra được, ta sẽ tra.”
Ta mở hộp ấn, lấy quan ấn của Thanh tịch sứ ra, đóng ngay lên cuối tờ chiếu lệnh trước mặt hắn.
“Còn ta có đủ tư cách hay không, ngươi không cần thừa nhận. Chỉ cần triều đình thừa nhận phương ấn này là được.”
Ta đưa chiếu lệnh đến trước cổng.
“Trong điền trang có bao nhiêu hộ, bao nhiêu người, hôm nay phải tra cho rõ từng hộ một.”
Quản sự không nhận lấy.
Ta đợi một lát rồi nói:
“Không mở cửa cũng được. Ghi lại cho ta: một điền trang nào đó ở Sóc Châu kháng cự chiếu lệnh, chống chỉ không chịu thanh tra.”
Bên trong cổng lập tức vang lên một tràng xôn xao khe khẽ.
Ta khép hộp ấn lại.
“Mở cửa.”
Quan binh phía sau đồng loạt tiến lên.
Rất nhanh, then cửa nặng nề bị người bên trong rút ra.
Hai cánh cổng điền trang chậm rãi mở rộng. Ta thu chiếu lệnh lại, bước thẳng qua ngưỡng cửa.
“Tra từ hộ đầu tiên.”
Hôm ấy, chúng ta tra xét mãi đến khi trời tối.
Đến chiều hôm sau, trong phòng sổ sách phía sau điền trang, người ta lại tìm được hai quyển sổ riêng chưa từng trình báo với quan phủ.
Hơn một trăm hộ gia đình, con cái đã sinh đến đời thứ ba, vậy mà huyện nha chưa từng nhìn thấy tên của họ.
Thư lại dựa theo sổ sách, lần lượt gọi từng nhà.
Một lão phụ nghe thấy tên mình thì sững sờ hồi lâu, hỏi:
“Đến cả ta cũng phải ghi vào sổ sao?”
“Phải ghi.”
Bà lại hỏi:
“Nam nhân nhà ta ch*t rồi, vậy ta được tính là hộ nào?”
Thư lại mở quyển sổ mới ra.
“Bà tự lập thành một hộ.”
Lão phụ ôm cô cháu gái nhỏ trong lòng, đứng ngây người hồi lâu rồi mới chậm rãi bước đến trước bàn, ấn dấu tay xuống giấy.
Những điền trang như vậy, về sau chúng ta còn tra xét hơn mười nơi nữa.
Sổ sách cũ từng bị niêm phong tại các châu lần lượt được chuyển ra. Đám thư lại từng theo ta cũng dẫn người đến các huyện làm việc.
Có người tra doanh trại quân đội, có người tiến vào điền trang, có người men theo những con đường lưu dân từng đi qua để tìm lại sổ cứu tế cũ.
Nửa năm sau, khi phía bắc lại tiến hành tuyển quân, số liệu do mấy châu trình lên lần đầu tiên không còn thiếu hụt một khoảng lớn như trước. Lương thực cũng bắt đầu được phân bổ theo số hộ thực tế.
Khoản thuế cũ của thôn Tân An cuối cùng đều được miễn toàn bộ.
Khi ta trở lại Thương Châu, cánh cửa nhà Tống Vân Nương đã được lắp lại.
Bà đang phơi đậu trong sân, Hạnh Nhi cũng đã trở về.
Sau này, Tào gia cuối cùng chịu thả người. Tống Vân Nương lấy mảnh đất mới được phân làm vật bảo chứng, chuộc lại khế ước trong vòng ba năm.
Hạnh Nhi nghe thấy động tĩnh, lập tức chạy từ trong sân ra.
“Hứa cô nương…”
Nàng chợt ngừng lời, đứng trước ngưỡng cửa, mỉm cười với ta.
“Ninh đại nhân.”
Tống Vân Nương vội vàng chạy ra từ phía sau, khẽ vỗ lên đầu nàng một cái.
“Lớn từng này rồi mà vẫn hấp tấp như vậy!”
Hạnh Nhi ôm đầu né tránh, sau đó lại lén làm mặt quỷ với ta.
Ta không nhịn được, cũng bật cười.
Lúc sắp đi, nàng đuổi theo ra tận ngoài cổng, nhét vào tay ta một gói giấy nhỏ.
“Cho cô mang theo ăn dọc đường.”
Ta mở ra nhìn, bên trong là một nắm đậu rang.
“Nàng rang đấy à?”
Nàng ra sức gật đầu.
Ta cất gói giấy vào tay áo, trở mình lên ngựa.
Đi được một quãng xa, ta vẫn còn nghe thấy tiếng nàng gọi phía sau:
“Ninh đại nhân, lần sau ta sẽ rang cho cô nhiều hơn!”
20
Năm ta hai mươi ba tuổi, Thượng thư Hộ bộ xin cáo lão hồi hương.
Ba năm trước, việc thanh tra hộ tịch tại bảy châu đã đi đến hồi kết. Ta được điều vào Hộ bộ, ban đầu phụ trách hộ tịch, về sau lại tiếp quản cả thuế ruộng.
Những quyển sổ qua tay ta từ bảy châu mở rộng ra hơn mười châu. Chỗ ngồi của ta cũng từ chiếc bàn nhỏ trong gian phòng phụ, từng bước chuyển đến trước chính đường.
Mùa thu năm ấy, triều đình tranh luận suốt bảy ngày về người kế nhiệm chức Thượng thư.
Đến ngày thứ tám, thánh chỉ được đưa đến Hộ bộ: Ninh Chiêu thăng chức Thượng thư Hộ bộ.
Ngày tiếp nhận ấn tín, trời vừa tảng sáng.
Ta chuyển từ phòng trực cũ vào chính đường. Trên bàn đã chất đầy hộ tịch, sổ ruộng và số liệu thu lương mùa thu vừa được các châu gửi đến.
Quyển trên cùng đến từ Nhạn Hồi Quan.
Ta mở trang đầu tiên, địa danh quen thuộc lập tức lọt vào mắt.
Năm mười ba tuổi, ta vẫn còn ở lều cứu tế, giúp Hà thư lại đếm số bát cháo phát ra. Góc bàn bị khuyết một miếng, trong tay ta khi ấy chỉ có nửa đoạn than.
Còn bây giờ, quyển sổ này đã được đưa một mạch đến kinh thành, đặt ngay trên bàn làm việc của ta.
Ta vừa lật qua hai trang thì có người bước vào từ ngoài cửa.
Thôi Cảnh Hành đặt một phong công văn của Ngự sử đài trước mặt ta.
“Mấy điền trang ở Hà Đông xin viện dẫn lệ cũ để được miễn thanh tra.”
Ta mở ra xem một lượt.
Phía sau tấu chương đã được đóng hai chữ: Bác bỏ.
Ta đọc lại từ đầu đến cuối rồi hỏi:
“Tất cả các điền trang ở Hà Đông đều bị bác bỏ sao?”
“Đều bị bác bỏ.” Thôi Cảnh Hành đáp. “Điền trang vẫn phải thanh tra, không mở ngoại lệ.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Ba năm trước, một trăm hai mươi sáu hộ của Thanh Hà Thôi thị cũng bắt đầu từ mấy trang sổ điền trang bị rút đi.
Thôi Cảnh Hành không tránh ánh mắt ta.
“Chuyện như vậy sẽ không có lần thứ hai.”
Ta khép công văn lại, đẩy về phía hắn.
“Ta biết rồi.”
Hắn thu công văn, không nhắc thêm về chuyện cũ ấy.
Đến lúc sắp ra khỏi cửa, hắn mới hỏi:
“Ngày mai nàng đến Nhạn Hồi Quan sao?”
“Ừm.”
“Bia mộ của Hà thư lại đã được dựng bổ sung từ năm kia.”
Ta nhìn hắn.
Hắn nói: “Ta vẫn luôn nợ ông ấy một tấm bia.”
Ta không lên tiếng.
Thôi Cảnh Hành cất công văn vào tay áo, lại nói:
“Thay ta đến thăm ông ấy.”
Ta gật đầu. Lúc này hắn mới xoay người rời đi.
Ngày hôm sau, ta lập tức ra khỏi thành.
Nhạn Hồi Quan đã cũ kỹ hơn trước đôi chút. Tường thành được tu sửa lại, vùng đất hoang phía ngoài cổng đông cũng đã dựng lên không ít bia mộ.
Hai năm trước, Thẩm Lan Nương từng đến đây. Bà dựng một tấm bia bên cạnh nghĩa trủng cho con gái mình, trên đó khắc dòng chữ:
Mộ Hứa Tri Vi, người Bình Châu.
Ta đứng trước bia mộ một lúc, rồi đặt tờ quan điệp cũ đã gìn giữ suốt bao năm xuống.
Giấy đã ngả vàng, các góc chỉ cần chạm nhẹ cũng có thể vỡ vụn. Gió thổi qua một trận, ta liền lấy hòn đá đè lên.
Khi xuống núi, vừa hay có mấy người bị chặn lại trước cổng thành.
Một cô nương chừng mười bốn, mười lăm tuổi, đeo tay nải rách trên lưng, đang bị lính canh giữ lại trước chiếc bàn.
“Quê quán ở đâu?”
“Thanh Châu.”
“Hộ thiếp đâu?”
Cô nương lắc đầu. “Lúc chạy nạn, ta làm mất rồi.”
Bên cạnh lính canh có một thư lại đang ngồi, không hề đuổi nàng đi.
Hắn lấy ra một tờ giấy trắng. “Có người đồng hương không?”
Cô nương quay đầu nhìn về phía sau.
Trong đám đông, một lão hán giơ tay lên. “Ta nhận ra con bé, chúng ta cùng một thôn.”
Thư lại lại hỏi tên thôn, tên cha mẹ nàng, sau đó sai người đi tìm trong sổ lưu dân vừa được đưa đến hôm trước.
Không lâu sau, có người ôm sổ chạy trở về. “Đối chiếu khớp rồi!”
Thư lại cầm bút bắt đầu ghi chép.
Cô nương đứng trước bàn, vẻ mặt căng thẳng. “Ta không còn cha mẹ nữa.”
Thư lại chẳng buồn ngẩng đầu. “Biết rồi.”
Viết xong, hắn đưa tấm mộc bài mới cho nàng. “Nữ hộ, một người.”
Cô nương nhận lấy mộc bài, cúi đầu nhìn đi nhìn lại.
Cổng thành mở ra. Nàng ôm chặt tay nải, theo dòng người bước vào thành.
[Hoàn]
Ý của đoạn kết có lẽ là:
– Trước kia, những người không có hộ tịch hợp lệ, lưu dân rất khó đi lại, sinh sống và được quan phủ thừa nhận. (Là đoạn ba mẹ con phải quỳ xin bát cháo ở đầu truyện vì làm mất mộc bài ấy)
– Sau khi Ninh Chiêu cải cách, người dân có thể làm lại hộ tịch rất dễ dàng, có thể tự lập nữ hộ, có thân phận hợp pháp.
– Cô gái bước vào Yên Hồi Quan bằng hộ tịch mới chính là minh chứng cho sự thay đổi ấy. Ninh Chiêu nhìn thấy nàng, hiểu rằng những việc mình làm đã thực sự giúp được người khác.